- Bởi Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Khánh Hòa
- 07/08/2026 07:57:54
- 7 lượt xem
- 0 lượt thích
- 0 bình luận
Năm 1942, khi đang bị đọa đày trong ngục tù của Quốc dân đảng (Trung Quốc), Hồ Chí Minh đã viết bài thơ “Dạ bán” (Nửa đêm), trong đó Người nêu quan điểm của mình về bản chất của con người và bản chất, vai trò của giáo dục. Toàn văn bài thơ đó như sau:
Thụy thì đô tượng thuần lương hán,
Tỉnh hậu tài phân thiện, ác nhân;
Thiện, ác nguyên lai vô định tính,
Đa do giáo dục đích nguyên nhân”.
Dịch nghĩa:
“NỬA ĐÊM
Lúc ngủ, mọi người đều có vẻ thuần hậu,
Tỉnh dậy, mới phân biệt rõ người thiện kẻ ác;
Thiện, ác vốn chẳng phải là bản tính cố hữu,
Phần lớn đều do giáo dục mà nên”1.
Ngoài ra, Hồ Chí Minh cũng đưa ra chỉ dẫn về cách xem xét, nhìn nhận và đánh giá về phẩm hạnh, bản chất của con người: hãy xem xét họ trong trạng thái “động” (tỉnh, thức), chớ xem họ trong trạng thái tĩnh (ngủ), tức là phải xem xét con người trong hành vi, ứng xử của họ, tức là “trong tính hiện thực của nó” (in seiner Wirklichkeit) - như lời của Karl Marx3.
Những tư tưởng trên đây của Hồ Chí Minh là những chỉ dẫn vô cùng quan trọng đối với chúng ta khi nghiên cứu về bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục. Quan điểm của Hồ Chí Minh rằng “nhân chi sơ” là “vô định tính”, và bản chất thiện hay ác của con người “phần nhiều do giáo dục mà nên” hoàn toàn phù hợp với hệ lý thuyết xã hội hóa nhân cách con người (Socialization Theory) - một trong những hệ lý thuyết được chấp nhận rất rộng rãi trong giới nghiên cứu về con người và nghiên cứu về giáo dục hiện nay4.
Như vậy, điều thứ nhất rút ra được từ tư tưởng của Hồ Chí Minh ở đây là: Phải đặt con người vào trong tính hiện thực của nó để phán đoán và xem xét về bản chất của con người. Theo cách làm khoa học như vậy, thì có thể khẳng định chắc chắn: bản chất, nhân cách, năng lực của con người phần nhiều do giáo dục mà nên. Chính là thông qua giáo dục cho nên các mối quan hệ, tương tác xã hội mới trở nên “tổng hòa” (ensemble) được với nhau, và mới đúc kết nên nhân cách, phẩm chất, năng lực của con người. Cho nên, bản chất của giáo dục chính là quá trình tác động có chủ đích đối với quá trình xã hội hóa nhân cách của con người.
“Thiện, ác nguyên lai vô định tính / Đa do giáo dục đích nguyên nhân” - Lời thơ của Hồ Chí Minh sâu sắc và chí lý. Giáo dục không chỉ có thành công mà có cả thất bại. Khi thành công thì góp phần quan trọng nhất tạo nên con người với nhân cách tốt, thiện lương. Giáo dục thất bại thì sẽ góp phần tạo nên những con người xấu, nhân cách méo mó, bệnh hoạn. Xem xét về bản chất và vai trò của giáo dục không thể không đặc biệt lưu ý đến điều này.
2. Bản chất và vai trò của giáo dục - Xét ở cấp độ cộng đồng, quốc gia
Ngày 3-9-1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị Chính phủ coi cuộc đấu tranh chống “giặc dốt” là một trong sáu nhiệm vụ quan trọng, cấp bách nhất. Bởi vì trước đó, dưới chế độ thực dân, dân tộc ta đã trở thành một “dân tộc dốt”: “Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ”. Người nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”5. Một câu nói ngắn gọn, hàm chứa trong đó những tư tưởng chắc chắn, có tính nguyên tắc của Hồ Chí Minh về bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục đối với sự cường thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc.
Thực ra đây chính là một trong những hạt nhân tư tưởng đã làm nên nền giáo dục Nho học Việt Nam rực rỡ, với nhiều thành tựu và đóng góp to lớn6. Điều này cũng đã từng được vua Lê Thánh Tông sai Thân Nhân Trung khắc vào bia tiến sĩ vào năm 1484: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết”7.
Đó là khi giáo dục Nho học phát huy được mặt tích cực của nó. Còn khi nó không thể tự mình vượt qua được những mặt hạn chế, khắc phục được những thiếu sót, sai lầm thì chính giáo dục Nho học lại trở thành một trong những nguyên nhân khiến cho đất nước ta rơi vào vòng lạc hậu, suy yếu. Đây chính là điều mà các nhà cải cách hồi cuối thế kỷ XIX, các thủ lĩnh của Phong trào Duy tân cũng đã nhận ra và xem xét khá kỹ càng. Trong một bản điều trần gửi đến vua Tự Đức và triều đình Huế vào năm 1867, Nguyễn Trường Tộ đã phê bình rất gay gắt những cái hủ bại của nền giáo dục Nho học, nhất là tính chất hư trương, vô dụng kiểu “tầm chương, trích cú”. Ông viết: “Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời!”8; “Như vậy mà cứ học cho đến bạc tóc, thật là quái gở không thể nào hiểu nổi!”9. Và ông đề nghị canh tân nền giáo dục làm tiền đề cho sự nghiệp canh tân đất nước: “Học những gì chưa biết để mà đem ra thực hành”; “Như thế mới là cái học trị nước giúp đời”10.
Canh tân và kháng chiến đều thất bại, nước ta bị rơi vào tay thực dân Pháp. Đến đầu thế kỷ XX, các nhà nho cấp tiến, như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Lương Văn Can, Huỳnh Thúc Kháng v.v. khởi xướng phong trào yêu nước mới với nhận thức “tự phán” rất nghiêm khắc:
“Đem thân khoa bảng làm tôi Pháp,
Chỉ tại nhà Nho học sách Tàu”11.
Các nhà nho cấp tiến đã ra sức kêu gọi đồng bào từ bỏ cách học hủ bại của Nho học, tiếp nhận và gây nền “thực học” theo gương các nước phương Tây văn minh, hiện đại:
“Một người học muôn người đều biết,
Trí ta khôn muôn việc đều hay.
Lợi quyền nắm được vào tay.
Có cơ tiến hóa, có ngày văn minh”12.
Như vậy, quan điểm cho rằng giáo dục là một trong những yếu tố quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của quốc gia, dân tộc là một tư tưởng xuyên suốt trong lịch sử tư tưởng Việt Nam. Hồ Chí Minh là người đúc kết lại những kinh nghiệm lịch sử vốn đã trở thành quy luật, thành minh triết của lịch sử dân tộc và của toàn nhân loại.
3. “Dân tộc dốt”: Hiểu theo nghĩa tuyệt đối và tương đối
Cái cần phải làm cho thật rõ ràng để có thể hiểu đúng, phát huy đúng và vận dụng đúng quy luật nói trên vào sự nghiệp phát triển nền giáo dục Việt Nam, vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay là: Thế nào là một “dân tộc dốt”? Mối liên hệ giữa “dân tộc dốt” với “dân tộc yếu” ngày nay là gì? Cần phải làm gì để dân tộc Việt Nam ngày nay không “dốt” và không “yếu”?
Về vấn đề “dân tộc dốt”: Ở thời điểm tháng 9-1945 thì tình trạng “dốt” của dân tộc Việt Nam trước hết được thể hiện ở tình trạng “Hơn chín mươi phần trăm đồng bào chúng ta mù chữ”13. Đó có thể nói là tình trạng “dốt tuyệt đối”. Một dân tộc có thể cần cù, thông minh, anh dũng trong lao động và trong chiến đấu, nhưng nếu tuyệt đại đa số nhân dân của quốc gia - dân tộc đó bị mù chữ, tức là chưa từng được thụ hưởng một chút nào của nền giáo dục hiện đại, cả chính thức (formal education) và không chính thức (none formal education). Để khắc phục tình hình trên, có ít nhất ba việc phải làm: Thứ nhất là việc Nhà nước đảm bảo quyền học tập và nghĩa vụ học tập bằng pháp luật. Thứ hai là việc Nhà nước, cộng đồng và cá nhân cùng chung tay bảo đảm cơ hội và điều kiện học tập cho tất cả mọi người dân. Thứ ba là tổ chức các chiến dịch xóa nạn mù chữ, và sau đó là nền giáo dục quốc dân chính quy và không chính quy (informal education). Đây là điều mà Nhà nước Việt Nam đã thực thi rất thành công, và ngày nay, với khoảng 98% dân số biết đọc, biết viết, Việt Nam thuộc nhóm có thành tựu xóa nạn mù chữ tốt nhất thế giới14.
Nghiêm trọng và phức tạp hơn là tình trạng “dốt tương đối”. Ở cấp độ quốc gia - dân tộc, dốt tương đối có nghĩa là sự tụt hậu về trình độ văn minh của quốc gia - dân tộc đó so với các quốc gia - dân tộc tiên tiến trên hoàn cầu. Tuy nhiên, “trình độ văn minh” lại là một chỉ báo được xác định bởi nhiều tiêu chí, thậm chí nhiều hệ tiêu chí phức tạp, bao gồm cả trình độ khoa học, công nghệ và mức độ tham gia của người dân vào quá trình ra những quyết định, quyết sách có liên quan đến số phận, định hướng phát triển và hình thức chung sống của toàn thể dân tộc.
Việc nước ta bị rơi vào ách thống trị của thực dân Pháp hồi nửa sau thế kỷ XIX là trường hợp điển hình của một dân tộc bị dốt tương đối, do đó bị lạc hậu và bị mất nước.
Ở thời điểm giữa thế kỷ XIX, Đại Nam là một cường quốc mạnh nhất nhì khu vực Đông Nam Á, đã đạt tới đỉnh cao nhất của mô hình phát triển truyền thống với một lãnh thổ thống nhất, một chính quyền quân chủ tập quyền và một quân đội đủ sức đánh bại các đạo quân trong khu vực. Xét về trình độ học vấn, chắc chắn Đại Nam khi đó sở hữu một tài sản chữ nghĩa giàu có với những thành tựu rực rỡ về văn chương, sử ký, điển chương. Tuy nhiên, nếu so sánh trên phạm vi toàn cầu thì Đại Nam không thoát ra khỏi tình trạng lạc hậu chung của các nước Á Đông. Trong nền tảng tri thức của dân tộc hoàn toàn thiếu vắng hệ thống các tri thức về khoa học tự nhiên và kỹ nghệ. Cao Bá Quát, một trong những người giỏi nhất trong giới trí thức Việt Nam thời đó (Thần Siêu, Thánh Quát) đã nhận ra tính chất hữu danh vô thực, vô dụng của thứ học vấn truyền thống, sau khi ông có dịp giao lưu tri thức với sứ thần các nước trên thế giới và trong khu vực. Ông đã nhận ra giới trí thức nước ta khi đó bụng đầy kinh sách, thơ phú chỉ là loại người: “Nhai văn nhả chữ buồn ta / Con giun còn biết đâu là cao sâu”. Và ông phản tỉnh: “Giật mình khi ở xó nhà / Văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi”15.
Nhưng cái dốt tương đối của dân tộc ta khi đó không chỉ là sự thiếu hụt, lạc hậu về tri thức khoa học và kỹ nghệ, mà còn bộc lộ ra trong cả việc người dân bị gạt ra ngoài lề chính sự, trở thành những kẻ vô cảm bất đắc dĩ đối với vận mệnh của đất nước. Chính vì vậy mà khi suy nghĩ lại về nguyên nhân mất nước, Phan Bội Châu đã cho rằng: Không phải người Pháp đến lấy nước ta mà nước ta bị mất, mà chính là người nước Nam ta đã tự làm mất nước Nam ta. Bởi vì theo cụ Phan: “Người nước ta ngày nay còn chìm đắm trong giấc ngủ miên man, còn rúc sâu vào trong cái túi ngu dại cuồng si”16. Nguyên nhân sâu xa là vì:
“Một là vua sự dân chẳng biết,
Hai là quan chẳng thiết gì dân.
Ba là dân chỉ biết dân,
Mặc quân với quốc, mặc thần với ai”17.
Cho nên, để khắc phục tình trạng dốt tương đối nghiêm trọng như trên thì không chỉ giáo dục tri thức cho dân hiểu biết về tri thức khoa học, kỹ nghệ, mà quan trọng hơn là “kéo tai, gõ trán thức tỉnh đồng bào”, “Biến đàn nô lệ thành đoàn văn minh”18. Chính vì thế, thế hệ nhà Nho cấp tiến đã đưa ra khẩu hiệu chung cho toàn bộ phong trào duy tân - yêu nước hồi đầu thế kỷ XX là: “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Đó là cách hiểu về tình cảnh “một dân tộc dốt” của các thế hệ lãnh tụ phong trào yêu nước Việt Nam từ Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, tiếp nối đến Hồ Chí Minh.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam học tập và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau gần 40 năm đổi mới và chủ động hội nhập quốc tế, Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng khủng hoảng trầm trọng và đạt được những thành tựu to lớn, tương đối toàn diện và bền vững. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết: “Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”19.
Tuy nhiên, so với trình độ phát triển của những nước phát triển thì Việt Nam đang ở trong tình trạng tụt hậu khá xa. Khoảng cách tụt hậu có xu hướng ngày một nới rộng hơn. Vì vậy, từ Đại hội VIII (1996), Đảng đã xác định tụt hậu là một trong bốn nguy cơ chủ yếu đối với sự tồn vong của chế độ, của quốc gia dân tộc. Đại hội XII (2016), Đảng tiếp tục nhận định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới ...”20. Đến Đại hội XIII (2021), Đảng tiếp tục nhận định: “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn”21. Ngày 13-3-2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục nhận định: “Bốn nguy cơ (tụt hậu xa hơn về kinh tế, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, “diễn biến hòa bình”) mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt gay gắt hơn”22.
“Nguy cơ tụt hậu” hay “tình trạng tụt hậu” về kinh tế nói riêng và về trình độ phát triển chính là biểu hiện tập trung nhất của tình trạng “dốt tương đối” của dân tộc ta hiện nay.
Có nhiều tiêu chí và chỉ báo để xác định mức độ của tình trạng trên, với cách tiếp cận và mức độ đáng tin cậy khác nhau. Để có thể có được bức tranh tổng thể và cái nhìn cụ thể, cần phối hợp sử dụng nhiều bộ công cụ đo lường, phân tích với các hệ chỉ báo khác nhau. Một số bộ công cụ và hệ chỉ báo đang thịnh hành trên thế giới, như chỉ số về đổi mới sáng tạo (Global Innovation Index, viết tắt GII), theo đó, năm 2021 Việt Nam đứng thứ 44/132 quốc gia được xếp hạng23. Hoặc như bộ đo năng suất các yếu tố tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP) và các bộ tiêu chí đánh giá kết quả giáo dục, các bảng xếp hạng trường đại học, viện nghiên cứu, và bộ tiêu chí đo chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) v.v.
Thời đại ngày nay là thời đại của văn minh trí tuệ, trong đó nguồn lực trí tuệ sẽ là yếu tố cốt lõi, quyết định năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của từng quốc gia. Hàm lượng chất xám kết tinh trong giá trị sản phẩm sẽ quyết định sức cạnh tranh của từng sản phẩm đó. Vì vậy, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trở thành yếu tố cốt lõi, năng động nhất của nguồn lực trí tuệ và của toàn bộ nền kinh tế. Trong giáo dục và đào tạo thì cốt lõi nhất là phải giúp cho con người phát triển năng lực sáng tạo, năng lực thích ứng, năng lực đối thoại liên văn hóa và đặc biệt là phát triển các phẩm chất nhân văn, nhân bản.
Chặng đường Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (Cách mạng 4.0) chính là sự tiếp nối của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang diễn ra trong kỷ nguyên văn minh trí tuệ và kinh tế tri thức. Chắc chắn cuộc Cách mạng 4.0 sẽ đưa lại cơ hội cho nhiều quốc gia đạt được những bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là một số quốc gia đang phát triển, đang ở trong tình trạng “dốt tương đối” như Việt Nam có thể tận dụng thời cơ và “lợi thế đi sau” để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách tụt hậu và gia nhập vào hàng ngũ những quốc gia phát triển.
Để hiện thực hóa được chiến lược phát triển này cần có ít nhất bốn điều kiện tiên quyết: một nền giáo dục hiện đại đủ năng lực đào tạo và phát triển được nguồn nhân lực có đầy đủ các phẩm chất của công dân toàn cầu; nguồn tài chính tương đối dồi dào và có thể đầu tư tập trung cho một số lĩnh vực ưu tiên; một nhà nước pháp quyền - kiến tạo mạnh, liêm chính và cởi mở; một nền văn hóa khai phóng (liberal), đậm tính nhân văn (humanitarian), cởi mở cho kết nối và đối thoại toàn cầu.
Nếu các quốc gia đi sau, trong đó có Việt Nam tham gia và làm chủ cuộc Cách mạng 4.0 thì khoảng cách giữa các nhóm nước này với các nước phát triển nhất sẽ ngày càng được nới rộng. Hệ quả không tránh khỏi là những nước lạc hậu hơn sẽ phải lệ thuộc vào các nước tiên tiến và bị các nước tiên tiến chi phối về mọi phương diện.
Nhận thức sâu sắc tư tưởng của Hồ Chí Minh “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, ngay từ khi trở thành đảng cầm quyền đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang không ngừng nêu cao quyết tâm chính trị đối với việc giải quyết “nạn dốt” ở nhiều cấp độ và với nhiều tính chất, mức độ khác nhau.
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công là chiến dịch “diệt giặc dốt” với phong trào bình dân học vụ, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng triệu đồng bào đã biết đọc, biết viết. Tháng 1-1946, tuyệt đại đa số công dân Việt Nam không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc, địa vị kinh tế, xã hội đã được tham gia cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Từ sau năm 1954 ở miền Bắc và từ sau năm 1975 trên phạm vi cả nước, thực hiện chiến lược xây dựng đất nước theo mô hình CNXH hiện thực, Đảng xác định tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, cách mạng về lực lượng sản xuất, cách mạng về quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học - kỹ thuật, trong đó “cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt”. Cho dù sau này mô hình và con đường đi lên CNXH kiểu cũ đã được xác định rõ là duy ý chí, chưa phù hợp quy luật, nhưng việc Đảng xác định “cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt” thì không sai. Nhờ có tư duy và quyết tâm chính trị đó mà ngay trong thời kỳ đất nước trải qua chiến tranh tàn khốc và trong thời kỳ nền kinh tế bị khủng hoảng trầm trọng, đất nước gặp muôn vàn khó khăn gay gắt thì nền giáo dục và sự nghiệp phát triển khoa học - kỹ thuật vẫn đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa. Đó chính là một bước dân tộc ta nỗ lực vượt qua tình trạng của một “dân tộc dốt”. Đó cũng chính là cơ sở, là vốn quý để Việt Nam có thể đổi mới và đạt được những thành tựu lớn hơn trong thời kỳ đổi mới đang diễn ra.
Trong thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau năm 1991, Đảng nêu cao quyết tâm chính trị mới, ở mức độ quyết liệt hơn, khi xác định: Phát triển giáo dục và đào tạo và phát triển khoa học và công nghệ là các“quốc sách hàng đầu”.
Cụ thể hóa phương châm chiến lược nói trên, HNTƯ 6, khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 1-11-2012 “Về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”24; HNTƯ 8, khóa XI, ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”25; HNTƯ 9, khóa XI ban hành Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014 “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”26; gần đây nhất là Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 của HNTƯ 8, khóa XIII “Về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”27. Có thể thấy rất rõ rằng, Đảng thấm nhuần rất sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và đã biến thành quyết tâm chính trị nhất quán, ngày càng rõ ràng, quyết liệt hơn. Đó là cơ sở chính trị để Nhà nước Việt Nam trong suốt gần 8 thập kỷ qua, nhất là trong thời kỳ đổi mới đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật và chiến lược nhằm đổi mới, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, phát triển văn hóa và con người Việt Nam.
Trên cơ sở tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục trong thực tế xuyên suốt lịch sử dân tộc và tầm nhìn thời đại, hiện nay, cần quan tâm và có giải pháp cho một số vấn đề sau:
Một là, xét từ góc độ giáo dục đối với sự phát triển nhân cách và năng lực con người, thì trước hết về phương diện nhận thức, giáo dục góp phần quan trọng nhất, quyết định nhất đối với việc phát triển năng lực và phẩm chất của con người, tức là đối với quá trình phát triển nhân cách của họ, quyết định việc họ sẽ trở nên người “thiện” hay kẻ “ác”. Tuy nhiên, cần phải nhận thức điều có tính quy luật này trong tính hiện thực, trong tính thực tiễn của nó, tránh nhận thức một cách giản đơn, phó mặc tất cả việc dạy người cho giáo dục nhà trường. Giáo dục chỉ có thể hoàn thành được sứ mệnh “trồng người” thiêng liêng của mình khi tự bản thân nó phải là nền giáo dục tốt, có môi trường giáo dục tốt và có phương pháp giáo dục phù hợp, hiệu quả.
Về tổ chức thực hiện, muốn cho giáo dục vun trồng được cái thiện, cái tốt đẹp, bài trừ cái ác, cái xấu thì bản thân nền giáo dục phải được tổ chức lại theo ba nguyên tắc: nghiêm chính, thân thiện, nhân văn và hiện đại. Nghiêm chính tức là phải thật nghiêm minh, ngay ngắn và trung thực, chỉ có như vậy nghề giáo và nền giáo dục mới vãn hồi được niềm tin và sự tôn kính mà nó cần phải có trong xã hội. Một nền giáo dục thiếu nghiêm chính, thiếu trung thực là nền giáo dục hoàn toàn vô dụng, thậm chí phản tác dụng. Thân thiện, nhân văn là nguyên tắc giáo dục hiện đại của toàn cầu, chỉ có như vậy chúng ta mới tạo được môi trường tương tác thuận lợi nhất cho sự phát triển lành mạnh của nhân cách con người trong kỷ nguyên cách mạng công nghệ cao và toàn cầu hóa. Tuy nhiên, thân thiện, nhân văn không có nghĩa là sự buông lỏng kỷ cương, là tự do vô điều kiện - những điều đó thúc đẩy những xu hướng tha hóa của con người.
Hai là, về phương diện cộng đồng, quốc gia - dân tộc, để thoát ra khỏi tình trạng “một dân tộc dốt” cần:
Về nhận thức, phải nghiên cứu làm rõ hơn nữa tình trạng “dốt tương đối” của dân tộc Việt Nam so với các dân tộc ở trình độ phát triển tiên tiến nhất. Phải chỉ ra được thật cụ thể là ta đang dốt cái gì? dốt ở mức độ nào? Đây là điều các nhà khoa học giáo dục của chúng ta chưa mạnh dạn chỉ ra được, đội ngũ các nhà khoa học cũng chưa thực sự trung thực và cầu thị để tự mình chỉ ra và thừa nhận yếu kém. Đội ngũ cán bộ quản lý thì còn mắc bệnh thành tích trầm trọng nên chưa nhìn thấu. Nhớ lời Hồ Chí Minh khi nói về Đảng: “một Đảng mà giấu diếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”28. Đối với sự nghiệp giáo dục cũng như vậy. Chỉ khi nào nhận thức được đầy đủ và chính xác tình trạng “dốt tương đối” của dân tộc thì chúng ta mới có cơ sở đáng tin cậy để đưa ra những giải pháp khắc phục phù hợp, hiệu quả.
Về tổ chức thực hiện, phải phát triển cho bằng được nền giáo dục tiên tiến, hiện đại. Giáo dục có sứ mệnh đi tiên phong, mở đường về trí tuệ thì mới dẫn dắt, đào tạo được con người và dẫn dắt tất cả các lĩnh vực khác của đời sống dân tộc đi lên bền vững. Trong điều kiện “đi sau”, tụt hậu như nước ta hiện nay thì cần phải cân nhắc để tổ chức cho được một nền giáo dục hiện đại phù hợp. Trong mấy thập kỷ qua, thế giới đã thảo luận không dứt về việc lựa chọn giữa giáo dục tinh hoa (elite education) và giáo dục đại chúng (mass education), nhưng dường như Việt Nam vẫn đứng ngoài cuộc thảo luận này. Mỗi mô hình hay triết lý giáo dục trên đều có lợi thế và hạn chế của nó. Chắc chắn, hiện nay và trong khoảng ba thập kỷ tiếp theo, Việt Nam cần cả hai mô hình giáo dục đó, kết hợp với nhau một cách hài hòa. Một mặt, chúng ta rất cần có giáo dục tinh hoa (elite education) ở một số ngành và lĩnh vực, ví dụ khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn. Sự thực là nếu chúng ta không thể đạt tới trình độ tinh hoa ở khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn, thì vĩnh viễn nền giáo dục và khoa học công nghệ của chúng ta sẽ ở trong tình trạng “dốt tương đối”, bị lệ thuộc lâu dài. Đối với mô hình giáo dục đại chúng cũng rất quan trọng và cần thiết cho Việt Nam hiện nay, vì đất nước đang cần một lực lượng lao động được đào tạo đông đảo, đủ năng lực tiếp cận và ứng dụng các công nghệ tiên tiến. Cho nên, cấp bách nhất là cần quy hoạch lại và kiên quyết kiên trì thực hiện được quy hoạch chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam theo hướng kết hợp hài hòa giữa giáo dục tinh hoa và giáo dục đại chúng.
Cần phải ưu tiên đầu tư cho giáo dục đào tạo và phát triển khoa học công nghệ và văn hóa. Khi Hồ Chí Minh kêu gọi chống “giặc dốt” thì cũng là lúc nhân dân cả nước trong điều kiện cực kỳ khó khăn vì “giặc đói” và giặc ngoại xâm. Vậy mà cuộc vận động chống “giặc dốt” đã được tiến hành rất sôi nổi và đạt kết quả tốt, còn kéo dài đến suốt những năm tháng chiến tranh. Ngay trong năm học đầu tiên khó khăn đó, ngày 14-9-1945, Chính phủ đã ban hành Nghị định miễn hoàn toàn tiền học, tiền thi ở tất cả các bậc đại học, trung học và tiểu học29.
Trong bối cảnh ngày nay, đầu tư cho giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và văn hóa là đầu tư cho phát triển. “Quốc sách hàng đầu” mà được “đầu tư hạng cuối” thì là chúng ta đang tự tước đoạt tương lai của cả dân tộc. Tất nhiên, đầu tư cho giáo dục, khoa học và văn hóa là vấn đề phức tạp, không phải chỉ của Nhà nước. Thực tế là người dân Việt Nam hiện nay đang tự đầu tư rất lớn cho giáo dục, và chúng ta hoàn toàn có thể đa dạng hóa nguồn đầu tư cho giáo dục, khoa học và văn hóa; nhưng làm thế nào thì đó là trách nhiệm của hệ thống chính trị do Đảng tổ chức, lãnh đạo và vận hành.
Phải khơi dậy được khát vọng phát triển và hào khí dân tộc. Đại hội XIII (2021) của Đảng nêu rõ “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại”30. Điều đó vô cùng cần thiết, bởi lẽ nhìn vào thực trạng nền giáo dục nước ta hiện nay, vẫn còn những hạn chế như bệnh sính bằng cấp, thói quen “học gạo” và tư duy “thương mại hóa giáo dục”. Cho nên, rất cần thiết phải có sự vào cuộc quyết liệt của toàn bộ hệ thống chính trị, của toàn dân, để khôi phục niềm tin, danh dự và hào khí cho nền giáo dục, khoa học và văn hóa, lấy đó làm điểm tựa để “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” của toàn dân tộc.

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 6/2024
2. Những khám phá về cách tiếp cận của Hồ Chí Minh đối với Nho giáo từng được các giáo sư Pierre Brocheux và Bernhard Dahm khởi xướng từ năm 1997. Xem: Phạm Hồng Tung: “Giáo sư Benhard Dahm: mấy cách kiến giải độc đáo về cách mạng Việt Nam và Hồ Chí Minh”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12-2023, tr. 94-100
3. Trong Luận cương số 6 về Feuerbach, Karl Marx đã viết: “Trong tính thực tiễn của nó [con người] là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội”, https://www.academia.edu/41087543/Karl_Marx_Thesen_%C3%BCber_Feuerbach_Theses_on_Feuerbach_German_Text_with_a_Facing_Page_English_Translation_By_Carlos_Benda%C3%B1a_Pedroza, ngày truy cập: 11-3-2024
4. Xem: Hurrelmann, Klaus: Einführung in die Sozialisationstheorie, 9. Auflage, Belt, Weinheim, 1999; Phạm Hồng Tung: Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 52-57
5, 13. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 7, 7
6. Xem: Phạm Hồng Tung: “Giáo dục Nho học: tảng nền văn hiến hay tội đồ lịch sử”, in trong: Phạm Hồng Tung: Văn hóa chính trị và lịch sử dưới góc nhìn văn hóa chính trị, Nxb CTQG, H, 2021, tr. 477-497
7. Bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc tử Giám, Hà Nội
8, 9, 10. Nguyễn Trường Tộ: “Tế cấp bát điều”, in lại trong: Trương Bá Cần: Nguyễn Trường Tộ - Con người và di thảo, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, TPHCM, 2002, tr. 289, 290, 289
11. Đây là câu thơ của Tam nguyên Vũ Phạm Hàm. Dẫn lại theo: Trần Quốc Vượng: “Nho giáo và văn hóa Việt Nam”, in trong: Vũ Khiêu (Chủ biên): Nho giáo xưa và nay, Nxb KHXH, H, 1991, tr. 174
12. Cục Lưu trữ Nhà nước Việt Nam, Viện Viễn Đông Bác cổ: Văn thơ Đông kinh Nghĩa thục, Nxb Văn hóa, H, 1997, tr. 111
14. file:///C:/Users/Acer/Downloads/Viet-Nam_Factsheet_21-DecFINAL%20(3).pdf
15. Cao Bá Quát: Đề sát viện Bùi công “Yên Đài anh ngữ” khúc hậu, https://www.thivien.net, ngày truy cập: 12-3-2024
16, 17, 18. Phan Bội Châu Toàn tập, Nxb Thuận Hóa - Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Huế - Hà Nội, 2001, T. 2, tr. 121, 152, 334
19. “Diễn văn của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam”, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/ky-niem-90-nam-ngay-thanh-lap-dang-cong-san-viet-nam-3-2-1930-3-2-2020-/-/2018/815925/dien-van-cua-tong-bi-thu%2C-chu-tich-nuoc-nguyen-phu-trong-tai-le-ky-niem-90-nam-ngay-thanh-lap-dang-cong-san-viet-nam.aspx, ngày đăng: 3-2-2020, ngày truy cập: 13-3-2024
20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 74
21, 30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 108, 111-112
22. Nguyễn Phú Trọng: “Một số vấn đề cần được đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng”, https://special.nhandan.vn/cong-tac-chuan-bi-nhan-su-DH-XIV/index.html, ngày truy cập: 14-3-2024
23. “Chỉ số Đổi mới sáng tạo - Global Innovation Index (viết tắt GII) là chỉ số đánh giá năng lực và kết quả đổi mới của các nền kinh tế thế giới do Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới - World Intellectual Property Organization (viết tắt WIPO), Đại học Cornell (Hoa Kỳ) và Viện INSEAD hợp tác thực hiện hàng năm từ năm 2009”, Xem: https://thuvienphapluat.vn/phap-luat/thoi-su-phap-luat/chi-so-doi-moi-sang-tao--gii-la-gi-den-nam-2030-chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-cua-viet-nam-thuoc-12327.html, ngày đăng: 14-5-2022, ngày truy cập: 14-3-2024
24. Xem: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-20-NQ-TW-2012-phat-trien-khoa-hoc-va-cong-nghe-phuc-vu-su-nghiep-cong-nghiep-hoa-280436.aspx, ngày truy cập: 14-3-2024
25. Xem: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-29-NQ-TW-nam-2013-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc-dao-tao-hoi-nhap-quoc-te-212441.aspx, ngày truy cập: 14-3-2024
26. Xem: https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Van-hoa-Xa-hoi/Nghi-quyet-33-NQ-TW-2014-xay-dung-phat-trien-van-hoa-con-nguoi-Viet-Nam-237544.aspx, ngày truy cập: 14-3-2024
27. Xem: https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-45-ve-tiep-tuc-xay-dung-va-phat-huy-vai-tro-cua-doi-ngu-tri-thuc-119231204122208681.htm, ngày truy cập: 14-3-2024
28. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 301
29. Xem: Việt Nam dân quốc công báo, số 1, ra ngày 29-9-1945.
- Tạp chí Lịch sử Đảng
- Liên kết bài viết gốc
Tin khác cùng chủ đề
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã và sự vận dụng ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới
- 06/08/2026 11:20:17
- 18 lượt xem
- 0 lượt thích
Bài viết phân tích tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã trong mối quan hệ với phát triển kinh tế – xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở tiếp cận liên ngành giữa khoa học chính trị, kinh tế học phát triển và lý thuyết vốn xã hội; đồng thời, nghiên cứu làm rõ bản chất, nguyên tắc tổ chức, vai trò lịch sử và giá trị đương ...
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển mô hình hợp tác xã ở Việt Nam
- 06/08/2026 11:19:20
- 16 lượt xem
- 0 lượt thích
Trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã luôn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Trên cơ sở kế thừa và vận dụng sáng tạo những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác, liên kết ...
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực và vận dụng trong phát triển nguồn ...
- 06/08/2026 11:15:13
- 17 lượt xem
- 0 lượt thích
Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm toàn diện, sâu sắc về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Bài viết phân tích quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của giáo dục đối với phát triển nguồn nhân lực; đánh giá thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam thời kỳ đổi mới và ...
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay
- 17/07/2026 04:33:45
- 79 lượt xem
- 0 lượt thích
Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật là một nội dung quan trọng góp phần vào xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân ở nước ta hiện nay. Việc vận dụng những quan điểm và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về tuyên truyền, giáo dục pháp luật vào nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến, ...
Xây dựng đội ngũ đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay
- 17/07/2026 04:01:58
- 89 lượt xem
- 0 lượt thích
Xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ có ý nghĩa nền tảng, góp phần quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Trong hệ thống tư tưởng của Người, người đảng viên cộng sản phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, năng lực công tác đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, luôn gắn bó mật ...
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số tại các cơ sở giáo dục đại học
- 16/07/2026 02:27:52
- 93 lượt xem
- 0 lượt thích
Trong bối cảnh tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước yêu cầu đổi mới toàn diện. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục, với các giá trị cốt lõi, như: lấy con người làm trung tâm, gắn lý luận với thực tiễn và đề cao học tập suốt đời, tiếp tục giữ vai trò định hướng quan trọng. Trên cơ sở đó, bài ...









Khi bàn đến giáo dục thì điều đầu tiên cần phải làm sáng tỏ là bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục là gì, xem xét ở ít nhất hai cấp độ: cá nhân và cộng đồng - xã hội. Đây là gốc rễ của mọi vấn đề khác của giáo dục, có ý nghĩa quyết định đối với những vấn đề cơ bản khác, như triết lý, phương châm giáo dục, mục tiêu giáo dục, chính sách giáo dục, mô hình tổ chức giáo dục, phương pháp giáo dục, đánh giá giáo dục v.v. Bài viết nêu quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục tiếp cận từ góc độ lịch sử đến tầm nhìn thời đại.