Trong di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm “Dân là gốc” giữ vị trí trung tâm, xuyên suốt và có giá trị chỉ dẫn thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Từ nhận thức coi Nhân dân là chủ thể lịch sử, là nguồn lực quyết định mọi thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc như một chiến lược lâu dài, nhất quán. Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với thời cơ, thách thức đan xen thì việc khơi dậy và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng quan điểm “Dân là gốc” càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Từ quan điểm “Dân là gốc” của Hồ Chí Minh đến khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới
Từ quan điểm “Dân là gốc” của Hồ Chí Minh đến khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới

1. Nội dung cốt lõi của quan điểm “Dân là gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Thứ nhất, “dân là gốc” thể hiện vai trò, vị trí của Nhân dân trong xã hội

Kế thừa và phát triển những quan điểm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng phương Đông, phương Tây, đặc biệt trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân, trong hệ thống lý luận của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập đến vị trí, vai trò to lớn của Nhân dân, cũng như khẳng định quan điểm “dân là gốc”. Người khẳng định: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại(1); “Dễ mười lần không dân cũng chịu; Khó trăm lần dân liệu cũng xong” (2). Người chỉ rõ: “Chúng ta phải biết rằng: lực lượng của dân chúng nhiều vô cùng”(3), “không có lực lượng nhân dân thì việc nhỏ mấy, dễ mấy, làm cũng không xong” (4), “Dân như nước, mình như cá”(5), lực lượng nhiều là ở dân hết, công việc đổi mới là trách nhiệm ở dân, vì thế mà phải “Đem tài dân, sức dân, của dân, làm lợi cho dân”(6). Từ đó Người đúc kết: Nước lấy dân làm gốc; “Gốc có vững cây mới bền; Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(7).

Vì nhân dân là gốc rễ, là nền tảng, là cội nguồn sức mạnh của dân tộc, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp cận quan điểm “dân là gốc” thông qua khẳng định bản chất dân chủ của Nhà nước ta. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn ghi nhớ “dân là chủ”, “mọi quyền hành đều ở nơi dân”. “Dân là chủ, dân làm chủ” khẳng định địa vị người chủ trong chế độ mới là nhân dân, điều này hoàn toàn đối lập với thân phận nô lệ, thần dân hay thảo dân trong chế độ phong kiến, thực dân trước đây. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ Nhà nước ta là nhà nước dân chủ nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân; “chế độ ta là chế độ dân chủ. Tức là nhân dân làm chủ”(8). Cho nên, “nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân”(9). Trong chế độ mới: dân là chủ và dân làm chủ, cán bộ đảng viên “là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(10), tức là phải tận tâm, tận lực phục vụ nhân dân. Trong mọi hoạt động, cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên, lên trước lợi ích của cá nhân.

Thứ hai, “dân là gốc” thể hiện quyền và nghĩa vụ của Nhân dân

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân là người tổ chức nên các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử phổ thông, trực tiếp, bỏ phiếu kín bầu các đại biểu xứng đáng vào các cơ quan quyền lực nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn các cá nhân hoặc Chính phủ khi cá nhân hoặc Chính phủ đó không còn thực hiện sự uỷ thác của nhân dân, đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh giải thích: Nhân dân cử ra những người đại diện cho mình, đồng thời “có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”(11).

Quyền của người dân - người làm chủ thể hiện ở nội dung quan trọng: nhân dân có quyền tham gia công việc quản lý của Nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các đại biểu do mình cử ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm trọn nhiệm vụ của mình là: người đầy tớ trung thành tận tuỵ của nhân dân”(12). Đồng thời, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân. Bổn phận đó được Người gọi là “đạo đức công dân”. Người nói rõ: “Làm chủ sao cho ra làm chủ, không làm chủ là muốn ăn bao nhiêu thì ăn, muốn làm bao nhiêu thì làm”(13), làm chủ thì chớ nên “ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau”. Nghĩa vụ của người làm chủ được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập nhiều lần trong các tác phẩm của mình. Người nói: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ, thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân”. “Các tầng lớp nhân dân ta - công nhân, nông dân, lao động trí óc, các nhà công thương, đồng bào thiểu số - ai nấy hãy làm tròn nghĩa vụ của người công dân, người chủ nước nhà”. Theo Người, trách nhiệm của dân đối với đất nước là phải đôn đốc, phê bình Chính phủ, kiểm tra công việc và hành vi của cán bộ, đảng viên, đồng thời phải thực hiện đầy đủ các chính sách của Đảng và Chính phủ. Trách nhiệm, nghĩa vụ của người làm chủ đối với vận mệnh của quốc gia, dân tộc cũng chính là biểu hiện sâu sắc của “dân là gốc”.

Thứ ba, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Vì “dân là gốc”, Nhân dân là lượng to lớn, có sức mạnh vô địch, mọi việc thành hay bại đều phụ thuộc vào lòng dân, ý dân, sức dân, nên việc quan trọng, trước hết Đảng, chính phủ, đoàn thể phải làm được là chăm lo đời sống Nhân dân. Trong suốt cuộc đời mình, điều Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn trăn trở, suy nghĩ và hành động là đảm bảo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Người nhấn mạnh: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(14). Người yêu cầu Chính phủ cần phải thực hiện ngay những công việc sau:

“1. Làm cho dân có ăn.

2. Làm cho dân có mặc.

3. Làm cho dân có chỗ ở.

4. Làm cho dân được học hành”.

Theo tinh thần đó, sau khi nước nhà mới được thành lập (9-1945), chính quyền cách mạng non trẻ với đối mặt với vô vàn khó khăn, thiếu thốn, tình hình an ninh chính trị phức tạp, thù trong giặc ngoài, một lúc phải đối mặt với ba thứ giặc: giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt ra những nhiệm vụ cấp bách, yêu cầu Chính phủ phải giải quyết ngay, trong đó đặc biệt là diệt giặc đói, trước thực trạng hơn hai triệu đồng bao ta chết đói lúc bấy giờ. Người đã phát động phong trào tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, tổ chức quyên góp gạo, Hũ gạo tiết kiệm cứu dân nghèo; phát động phong trào Bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ. Những giải pháp hữu hiệu, thiết thực đó đã từng bước đứa đất nước thoát khỏi thời kỳ khó khăn, thử thách.

Có thể nói, trong quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân là gốc”  chính là đảm bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân, là mục tiêu hướng tới của sự nghiệp cách mạng. Trong Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân trước lúc đi xa, Người căn dặn: “Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hoá, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(15). Phải có kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Đây chính là tổng kết về mục tiêu của chủ nghĩa xã hội đồng thời thể hiện rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chăm lo đời sống cho Nhân dân.

2. Bài học “lấy dân làm gốc” là động lực khơi dậy tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc

Xuyên suốt chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam, bài học “lấy dân làm gốc” luôn có mối quan hệ biện chứng, gắn kết với tinh thần, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học “Dân là gốc”, lấy sức mạnh đoàn kết của nhân dân, lấy lòng dân, ý dân, lấy lợi ích của nhân dân là đòn bẩy, là động lực cho sự phát triển của đất nước, dân tộc. Bài học “lấy dân làm gốc” được minh chứng qua lịch sử dựng nước và giữ nước, ông cha đúc kết chân lý ngàn đời, từ lời dạy của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”, tới lời dạy của Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”(16), ông cha ta suốt mấy ngàn năm lịch sử, đã vận dụng những bài học quý giá đó, để dựng xây nước nhà. Lịch sử thế giới cũng như lịch sử Việt Nam đã chứng minh rằng, khi quần chúng đã giác ngộ, được tổ chức lại và kiên quyết vùng dậy thì không có khó khăn nào là không thể vượt qua, không có việc gì là không thể làm nổi. Quần chúng nhân dân có sức mạnh và sự sáng tạo phi thường trong cách mạng. V.I. Lênin đã nói: “Cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức và bóc lột. Không lúc nào quần chúng nhân dân có thể tỏ ra là người tích cực sáng tạo ra những trật tự xã hội mới như trong thời kỳ cách mạng. Trong những thời kỳ như thế,...thì nhân dân có thể làm được những kỳ công”.

Trước hết, “lấy dân làm gốc” tạo cơ sở để tập hợp, quy tụ mọi giai tầng xã hội trong khối đoàn kết thống nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đoàn kết tất cả những ai có lòng yêu nước, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, dân tộc, quá khứ, miễn là cùng chung mục tiêu độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nhân dân là một khái niệm được hiểu rất rộng, nhân dân chính là tất cả “mọi con dân nước Việt”, “con rồng cháu tiên”, là toàn thể đồng bào, là anh em một nhà. Trong lực lượng rộng lớn đó, có nhiều lợi ích đan xen, nhiều mối quan hệ phức tạp, tồn tại cả sự cạnh tranh về lợi ích, mà nếu không giải quyết hài hòa sẽ tạo thành những vấn đề xã hội làm suy giảm lòng dân, sức dân. Nhận thức điều đó một cách nhất quán, để quy tụ, tập hợp được đông đảo quần chúng Nhân dân, khai thác sức mạnh to lớn của Nhân dân, phải dựa trên việc tôn trọng và bảo đảm quyền lợi chính đáng của Nhân dân, đây chính là động lực nội sinh thúc đẩy tinh thần đoàn kết. Khi Nhân dân thực sự được làm chủ, được lắng nghe và được hưởng thành quả phát triển, niềm tin vào Đảng và Nhà nước sẽ được củng cố, từ đó tạo sự đồng thuận xã hội ngày càng bền chặt.

Điều đó trở lại với vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay là “sao cho được lòng dân”; “Chính phủ là công bộc của dân”, Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, dân là chủ. Chính phủ là Chính phủ nhân dân nên các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu tự do, dân chủ, hạnh phúc cho mọi người. Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải lấy dân làm gốc, coi dân là chủ, đặt quyền lợi nhân dân lên trên hết thảy. Lấy phương châm của Chủ tịch Hồ Chủ tịch làm thước đo cho mọi hành động: “Việc gì có lợi cho dân thì ra sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”.

3. Đại đoàn kết dân tộc - nhân tố quyết định sự thắng lợi cho giai đoạn phát triển mới

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng, là dấu mốc mở ra giai đoạn phát triển mới của dân tộc Việt Nam, giai đoạn của ý chí tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, của khát vọng vươn lên, của niềm tin son sắt vào con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Đại hội XIV diễn ra trong bối cảnh cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp chính thức vận hành từ ngày 01/7/2025. Đây là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tinh giản đầu mối, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Quá trình này không chỉ mang ý nghĩa điều chỉnh địa giới hành chính mà còn tác động sâu sắc tới kinh tế, chính trị, văn hóa, đời sống của Nhân dân. Đây là công việc hệ trọng, cấp bách nên phải tiến hành thận trọng, bài bản, có lộ trình rõ ràng, bảo đảm chất lượng, hiệu quả và đặc biệt phải phát huy được sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, lấy lợi ích của Nhân dân làm trung tâm. 

Trong bối cảnh mới của cuộc cách mạng sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã, kết thúc hoạt động của đơn vị hành chính cấp huyện, thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp cho thấy niềm tin và sự hài lòng của Nhân dân đối với chính quyền ngày càng tăng cao. Chính quyền gần dân, sát dân, giảm sự chồng chéo, cồng kềnh, giúp chính quyền kiểm soát công việc được dễ dàng, nâng cao chất lượng phục vụ người dân, mọi quy trình, thủ tục, đặc biệt khi áp dụng chính phủ điện tử, chính phủ số, người dân được tiếp cận dịch vụ công tốt hơn, thủ tục hành chính cũng được xử lý nhanh gọn, hiệu quả. Người dân được hưởng thụ lợi ích trực tiếp, thiết thực từ việc sắp xếp đơn vị hành chính, từ đó gia tăng niềm tin, sự đồng thuận xã hội, ủng hộ của nhân dân với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đây chính là động lực quan trọng trong huy động sức mạnh dân tộc, trong thực thi nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm đạt những mục tiêu chiến lược trong nhiệm kỳ Đại hội XIV và giai đoạn tiếp theo.

Bên cạnh đó, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh, mở rộng quy mô đơn vị hành chính cấp xã cả về địa giới hành chính và quy mô dân số sẽ thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, từ đó tăng cường sự gắn bó, giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các cộng đồng dân cư, tạo địa bàn, không gian rộng lớn, thúc đẩy khai thác nhiều tiềm năng, dư địa về kinh tế, văn hoá, xã hội. Từ đó tăng cường liên kết vùng, miền, thúc đẩy khối đại đoàn kết thống nhất rộng lớn trên cơ sở tôn trọng, gắn bó lẫn nhau trong cộng đồng dân cư, hạn chế định kiến, phân biệt vùng miền trước đây, thành khối thống nhất, đồng lòng từ từng địa phương tới cả nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực còn có những tác động tiêu cực của việc sắp xếp lại đơn vị hành chính đến thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc đặt ra những vấn đề thực tiễn cần giải quyết. Trong đó, nổi lên là các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để chống phá, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc - đây luôn là mục đích và hành động mà các thế lực thù địch hướng tới trong suốt nhiều năm qua, nhất là trong bối cảnh cuộc cách mạng về sáp nhập đơn vị hành chính thời gian qua, lợi dụng điều đó các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm kích động, chia rẽ nhân dân. Những luận điệu như “xóa bỏ bản sắc dân tộc”, “làm mất quyền lợi của nhân dân” hay “gây bất ổn xã hội”… không chỉ phiến diện mà còn mang dụng ý xấu, bóp méo chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính của Đảng và Nhà nước để kích động người dân mất niềm tin vào Đảng và Nhà nước, hệ thống chính trị, kích động mâu thuẫn dân tộc, tôn giáo; nhằm gây hoang mang, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây cản trở công cuộc đổi mới và phát triển đất nước.

Từ thực trạng đặt ra với khối đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh mới, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã xác định để hoàn thành các mục tiêu chiến lược đặt ra trong bối cảnh mới, giai đoạn mới, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình thì có 08 định hướng lớn cần thực hiện, trong đó Đảng xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng hội tụ và phát huy cao nhất sức mạnh của Nhân dân, tạo nên sức mạnh vô địch để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường. Đảng đã chỉ đạo kiên trì thực hiện đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng của khối liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích; bảo đảm công bằng, bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp xã hội và mỗi người dân trong tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả phát triển; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường trách nhiệm, trật tự, kỷ cương; nêu cao ý thức trách nhiệm của mỗi cá nhân, cộng đồng với quốc gia, dân tộc.

4. Một số giải pháp phát huy quan điểm “dân là gốc”, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế, chính sách bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện dân chủ thực chất, nhất là dân chủ ở cơ sở; mọi chủ trương, chính sách lớn phải lấy ý kiến Nhân dân, tôn trọng và lắng nghe Nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, mọi cơ chế, chính sách đều cần lấy người dân làm trung tâm, bảo đảm sự công bằng, giải quyết hài hòa lợi ích của các tầng lớp Nhân dân, giữa các vùng, miền, giữa các dân tộc, tôn giáo nhằm tạo được sự đồng thuận, thống nhất cao về chủ trương sáp nhập các đơn vị hành chính, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đặc biệt, đối với đồng bào dân tộc thiểu số, Đảng, Chính phủ phải thiết thực quan tâm tới chính sách cho đồng bào dân tộc, thiểu số, chính sách cho vùng sâu, vùng xa. Để bảo đảm quyền lợi, sự đồng thuận và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chính quyền những nơi này phải thực sự gần dân, sát dân, thường xuyên tổ chức các buổi đối thoại có sự tham gia của người uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số, các già làng… để người dân hiểu rõ mục tiêu, lợi ích của việc sáp nhập và có các chính sách hỗ trợ để duy trì, bảo tồn các nét văn hóa đặc sắc dân tộc. Đối với cán bộ người dân tộc thiểu số, cần có sự ưu tiên trong sắp xếp, bố trí việc làm phù hợp và bồi dưỡng, nâng cao năng lực, bản lĩnh chính trị để làm cầu nối vững chắc giữa chính quyền và người dân, phát huy tinh thần đoàn kết trong cộng đồng dân cư.

Thứ hai, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, quan liêu - những nguy cơ làm suy giảm niềm tin và phá vỡ khối đại đoàn kết. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là yêu cầu có ý nghĩa quyết định đối với việc củng cố niềm tin của nhân dân và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, nếu quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, quan liêu, làm tha hóa đội ngũ cán bộ, đảng viên và làm suy giảm uy tín của Đảng. Tham nhũng, quan liêu không chỉ gây tổn hại về kinh tế mà còn làm méo mó quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, tạo bức xúc xã hội, phá vỡ sự đồng thuận. Đây là mảnh đất để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết. Vì vậy, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực là giải pháp căn bản để làm trong sạch bộ máy, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân, củng cố niềm tin xã hội, từ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Thứ ba, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong tập hợp, vận động, đoàn kết các tầng lớp nhân dân; chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của Nhân dân. Song song với việc củng cố khối đại đoàn kết trên cơ sở “dân là gốc”, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa và hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm thực chất nguyên tắc mọi quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy đầy đủ phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; bảo đảm cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ.

Thứ năm, đẩy mạnh công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là quan điểm “Dân là gốc” và đại đoàn kết toàn dân tộc, gắn với thực tiễn phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quan điểm “Dân là gốc” khẳng định Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là nguồn sức mạnh quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Việc giáo dục sâu sắc tư tưởng này giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao nhận thức về vai trò, quyền làm chủ và trách nhiệm đối với sự nghiệp chung. Gắn giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn phát triển đất nước sẽ làm cho các quan điểm đó trở nên sinh động, dễ tiếp thu, tránh giáo điều, hình thức. Thông qua đó, khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội. Đây là cơ sở quan trọng để phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo động lực thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới.

Như vậy, bước vào giai đoạn phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, đứng trước rất nhiều mục tiêu, nhiệm vụ to lớn và quyết tâm của Đảng cần phải hoàn thành cho bằng được. Trong bối cảnh nhiều thách thức như khoảng cách phát triển, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, tác động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực. Bài học “sao cho được lòng dân” nhằm khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng “Dân là gốc” có ý nghĩa quyết định. Đoàn kết trên cơ sở “lấy dân làm gốc” nhằm củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, tạo đồng thuận xã hội trong bối cảnh mới, từ đó phát huy mọi nguồn lực trong nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và tăng cường sức đề kháng của xã hội trước các tác động tiêu cực, âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Đại đoàn kết toàn dân tộc chính là nền tảng vững chắc để thực hiện thành công mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, xây dựng đất nước phồn vinh, Nhân dân ấm no, hạnh phúc./.

---------------------------------

Ghi chú:

[1]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, t.2, tr.297.

[2]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.15, tr.280.

[3]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.335.

[4]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.7, tr.176.

[5]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.116.

[6]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.81.

[7]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.5, tr.502.

[8]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.13, tr.10.

[9]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 454.

[10]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.15, tr.622.

[11]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.12, tr.375.

[12]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.9, tr.81.

[13]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.13, tr.287.

[14]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.4, tr.175.

[15]. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.15, tr.612.

 

[16]Nguyễn Trãi, Toàn tập (1969). Tập 1. H. NXB Khoa học xã hội, tr. 84, 141.

 

 

ThS Dương Thị Thùy Dung - Trường Chính trị tỉnh Gia Lai

1. Nội dung cốt lõi của quan điểm “Dân là gốc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh Thứ nhất, “dân là gốc” thể hiện vai trò, vị trí của Nhân dân trong xã hội Kế thừa và phát triển những quan điểm tiến bộ trong lịch sử tư tưởng phương Đông, phương Tây, đặc biệt trong quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng Nhân dân, trong hệ thống lý luận của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đề cập đến vị trí, vai trò to lớn của Nhân dân, cũng như khẳng định quan điểm “dân là gốc”. Người khẳng định: Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không có gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Dân khí mạnh thì quân lính n&agr

Tin khác cùng chủ đề

Giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 02 cấp trong bối cảnh hiện nay
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí hiện nay
Nguyên tắc "của dân, do dân, vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong xây dựng chính quyền thời kỳ chuyển đổi số hiện nay
Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Nghệ thuật thu hút, trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh và định hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay
Xây dựng Đảng về đạo đức trong Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Gửi bình luận của bạn