Một trong những điểm mới quan trọng trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng đó là chủ trương “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”. Chủ trương đó thể hiện rõ bước phát triển mới về tư duy lý luận quốc phòng, an ninh, kế thừa truyền thống tự lực, tự cường của dân tộc, đồng thời phản ánh tầm nhìn chiến lược của Đảng trong việc kết hợp sức mạnh quân sự, an ninh với khoa học, công nghệ và công nghiệp quốc gia. Bài viết tập trung làm rõ quá trình hình thành chủ trương và ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Chủ trương “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” - Bước phát triển tư duy lý luận trong dự thảo các văn kiện đại hội XIV của Đảng
Chủ trương “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” - Bước phát triển tư duy lý luận trong dự thảo các văn kiện đại hội XIV của Đảng
 
Tổng Bí thư Tô Lâm với lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

1. Quá trình hình thành chủ trương
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã sớm nhận thức sâu sắc về vai trò của nền công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường. Người khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”1. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ: dù điều kiện vật chất thiếu thốn, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo hình thành các xưởng quân giới, cơ sở sửa chữa, chế tạo vũ khí thô sơ, từ “mìn tre, súng kíp” đến “đạn pháo, tên lửa” - biểu tượng của tinh thần “tay không dựng nên nghiệp lớn”. Đây là giai đoạn đầu tiên trong quá trình hình thành tư duy công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường, đặt nền móng cho sự phát triển sau này.
Sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (4-1975), cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên CNXH, cách mạng Việt Nam đứng trước yêu cầu mới: vừa củng cố quốc phòng, vừa khôi phục kinh tế, phát triển sản xuất. Trong điều kiện bị bao vây, cấm vận, Việt Nam chủ yếu duy trì các nhà máy, xí nghiệp quốc phòng để sửa chữa, cải tiến vũ khí có sẵn, chưa có điều kiện mở rộng nghiên cứu - sản xuất mới. Tuy nhiên, tư duy của Đảng đã có sự dịch chuyển quan trọng: từ công nghiệp quốc phòng phục vụ chiến tranh, sang phục vụ hòa bình, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội. Nghị quyết Đại hội IV (1976) của Đảng khẳng định: “Phải kết hợp đúng đắn kinh tế với quốc phòng. Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâmlược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc”2. Đây là tiền đề cho tư duy “lưỡng dụng” hình thành sau này.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI (1986) của Đảng khẳng định: phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế và tăng cường quốc phòng, an ninh, coi đây là hai mặt của một quá trình thống nhất. Đại hội chủ trương: “Trên cơ sở bảo đảm nhiệm vụ chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất quốc phòng, huy động một phần lực lượng quân đội, sử dụng một phần năng lực công nghiệp quốc phòng vào việc xây dựng kinh tế”3. Trên cơ sở đó, từ đầu những năm 1990, Nhà nước ban hành nhiều chính sách chuyển đổi doanh nghiệp quốc phòng sang sản xuất hàng hóa dân dụng, hình thành các doanh nghiệp “lưỡng dụng” vừa sản xuất quốc phòng, vừa sản xuất kinh tế.
Bước sang thế kỷ XXI, đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, Đảng nhận thức sâu sắc rằng, để bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, phải dựa vào nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, tự chủ, gắn với phát triển khoa học công nghệ quốc gia. Đại hội lần thứ IX (2001) của Đảng chủ trương: “Đầu tư thích đáng cho công nghiệp quốc phòng, trang bị kỹ thuật hiện đại cho quân đội, công an. Tận dụng năng lực công nghiệp dân sinh phục vụ quốc phòng và an ninh”4. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng, bởi khi đó Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu đã sụp đổ, các thế lực thù địch, phản cách mạng ra sức chống phá, hòng thủ tiêu các nước XHCN còn lại, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Chính vì vậy, việc tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, đầu tư thích đáng cho công nghiệp quốc phòng, cho quân đội, công an, tận dụng năng lực công nghiệp dân sinh phục vụ quốc phòng và an ninh, để quân đội và công an hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình trong bối cảnh mới là hết sức cần thiết.
Ngày 16-7-2011Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW “về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định: đưa công nghiệp quốc phòng thành một bộ phận quan trọng của công nghiệp quốc gia, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tiếp tục xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng thành bộ phận quan trọng của tiềm lực quốc phòng, an ninh quốc gia, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại; đồng thời, tăng tính lưỡng dụng trong đầu tư phát triển; kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất quốc phòng với kinh tế5. Đại hội lần thứ XIII (2021) của Đảng tiếp tục nâng chủ trương này lên một tầm mức mới: “Phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại, có trình độ khoa học - công nghệ cao, là bộ phận quan trọng và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, chế tạo được một số loại vũ khí có ý nghĩa chiến lược, từng bưc bảo đảm vũ khí, trang bị cho lực lượng vũ trang6. Tiếp đó, ngày 26-1-2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW, “về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo”, trong đó xác định xây dựng nền công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; công nghiệp quốc phòng phải làm chủ được công nghệ tiên tiến, hiện đại, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng Quân đội hiện đại, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Tổng Bí thư Tô Lâm và đại biểu tham quan trưng bày các sản phẩm
của Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng

2. Những thành quả đạt được
Thực hiện chủ trương của Đảngcông nghiệp quốc phòng đã chú trọng đầu tư nghiên cứu, sáng chế, chế tạo, sản xuất các mặt hàng có tính lưỡng dụng cao trong các nhà máy và ở một số cơ sở công nghiệp nặng, đồng thời đẩy mạnh thực hiện chuyển giao công nghệ hai chiều, từ công nghiệp dân dụng vào công nghiệp quốc phòng và ngược lại. Nhà nước tập trung xây dựng một số nhà máy mũi nhọn, có thể tham gia nghiên cứu, sáng chế và sản xuất một số mặt hàng quân sự đáp ứng trang bị cho lực lượng vũ trang, trong đó tập trung vào một số ngành như cơ khí luyện kim, cơ khí chế tạo, điện tử, tin học, hoá dầu. Xây dựng kế hoạch động viên công nghiệp quốc gia phục vụ thời chiến; thực hiện dự trữ chiến lược các nguyên, nhiên, vật liệu quý hiếm cho sản xuất quân sự. Qua đó, lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đã đạt được nhiều kết quả tích cực. Từ năm 2020 đến tháng 9-2025, hơn 80% sản phẩm nghiên cứu khoa học của các đơn vị quân đội được đưa vào sản xuất. Trong số đó, nhiều vũ khí bộ binh và quân binh chủng đã được nghiên cứu, sản xuất thành công như xe chiến đấu bộ binh, thiết giáp chở quân, pháo tự hành, pháo tàu, máy bay không người lái trinh sát và chiến đấu, tên lửa phòng không tầm thấp, phần chiến đấu cho tên lửa đối hải tầm trung. Một số chủng loại có hàm lượng kỹ thuật cao mà chỉ ít quốc gia làm chủ được cũng đã được hoàn thiện, như vũ khí chống tăng thế hệ mới có khả năng tiêu diệt xe tăng trang bị giáp phản ứng nổ và hệ thống phòng thủ chủ động; hay súng trung liên thế hệ mới sau nhiều năm bế tắc vì đối tác không chuyển giao tài liệu thiết kế. “Những kết quả này đã góp phần đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thể tự chủ nghiên cứu, thiết kế, sản xuất, sửa chữa hầu hết các loại vũ khí, khí tài cho bộ binh; đồng thời từng bước làm chủ thiết kế, chế tạo, hiện đại hóa vũ khí cho các quân binh chủng”7.
Phát biểu tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, ngày 3-7-2023, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã cho rằng: “Lĩnh vực công nghiệp quốc phòng đạt nhiều kết quả tích cực; tiếp tục triển khai thực hiện quyết liệt Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo,... từng bước bảo đảm tự trang bị vũ khí hiện đại, phù hợp với nghệ thuật tác chiến của quân đội ta, góp phần tạo nền tảng để xây dựng Quân đội hiện đại trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới” 8.
Nhiều doanh nghiệp Quân đội hoạt động trên các lĩnh vực khác nhau, như: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, Tổng Công ty Tân Cảng Sài Gòn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Quân đội, Tổng Công ty Trực thăng Việt Nam, Tổng Công ty Sông Thu,... đã có bước phát triển mạnh mẽ, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, công nghệ cao, hiện đại, mang thương hiệu Việt Nam, đáp ứng một phần nhu cầu vũ khí, trang bị kỹ thuật cho toàn quân. Đồng thời, nghiên cứu, sản xuất được nhiều mặt hàng kinh tế chất lượng cao, tạo được thương hiệu uy tín, có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu, góp phần phục vụ quốc kế dân sinh, đóng góp vào tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân, cân đối một phần ngân sách của Nhà nước dành cho quốc phòng và ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm việc làm, thu nhập cho hàng vạn lao động. Tiêu biểu như “Dây chuyền sản xuất thuốc nổ công nghiệp - thuốc nổ nhũ tương, thuốc nổ anfo” tại các nhà máy Z113, Z114, Z115, Z121, Z131; “Dây chuyền sản xuất pháo hoa” tại Nhà máy Z121; “dây chuyền sản xuất dây cáp điện” tại Nhà máy 143; “Dây chuyền sản xuất sản phẩm cao su” tại Nhà máy Z175; “Dây chuyền sản xuất sản phẩm vải sợi” tại Nhà máy Z176; các sản phẩm đóng tàu kinh tế tại Z189 và nhiều dây chuyền sản xuất sản phẩm cơ khí, nhựa, hàng gia dụng9. Trong lĩnh vực công nghiệp an ninh, nhiều trang thiết bị kỹ thuật số, phương tiện đặc chủng, công nghệ giám sát tiên tiến đã được sản xuất trong nước, góp phần tự chủ hóa một phần quan trọng nhu cầu trang bị của lực lượng Công an nhân dân.
Thành tựu của công nghiệp quốc phòng, an ninh thời gian qua đã góp phần nâng cao trình độ trang bị của các lực lượng vũ trang, đặc biệt là Hải quân, Phòng không – Không quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng và Công an nhân dân; tăng tính chủ động trong bảo vệ chủ quyền biển đảo, không phận; giảm phụ thuộc vào nước ngoài trong một số dòng vũ khí, khí tài chiến thuật quan trọng; tạo điều kiện để triển khai các nhiệm vụ quốc phòng trong an ninh truyền thống và phi truyền thống. Trong nhiều sự kiện an ninh phức tạp ở Biển Đông, các phương tiện “Made in Vietnam” đã trực tiếp tham gia thực thi pháp luật, khẳng định năng lực tự chủ quốc phòng của đất nước.
Bên cạnh những thành tựu đạt được, quá trình thực hiện chủ trương của Đảng vẫn còn những hạn chế:
Công nghệ công nghiệp quốc phòng, an ninh nhìn chung còn hạn chế, chưa làm chủ đầy đủ các công nghệ lõi. Một số lĩnh vực then chốt như động cơ phản lực, tên lửa tầm xa, vi điện tử quốc phòng, công nghệ vật liệu đặc chủng, hệ thống điều khiển hỏa lực, công nghệ định vị - dẫn đường tiên tiến… vẫn phụ thuộc vào bên ngoài. Việc tiếp cận các công nghệ chiến lược gặp khó khăn do các rào cản chính trị – công nghệ từ các nước cung cấp.
Quy mô ngành công nghiệp quốc phòng - an ninh còn hạn chế so với yêu cầu bảo đảm trang bị hiện đại cho toàn quân, toàn lực lượng Công an. Mối liên kết giữa công nghiệp quốc phòng - công nghiệp dân dụng - công nghiệp công nghệ cao chưa chặt chẽ. Một số doanh nghiệp quốc phòng vẫn hoạt động theo mô hình khép kín, thiếu cơ chế mở để tham gia sâu vào thị trường dân sự và quốc tế.
Hiệu quả công nghiệp lưỡng dụng chưa tương xứng tiềm năng. Nhiều cơ sở lưỡng dụng mới ở giai đoạn thử nghiệm, thiếu sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Công tác phối hợp liên bộ, liên ngành còn lúng túng. Chuỗi giá trị lưỡng dụng trong một số ngành như công nghệ hàng không, công nghệ biển, đóng tàu quân sự - dân sự chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu: Nhân lực nghiên cứu – chế tạo công nghệ cao, đặc biệt là nhân lực vật liệu mới, trí tuệ nhân tạo, tự động hóa, công nghệ vũ trụ, an ninh mạng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Việc thu hút chuyên gia hàng đầu, đặc biệt từ khu vực tư nhân và quốc tế, gặp nhiều ràng buộc pháp lý và cơ chế đãi ngộ.
Đầu tư phân tán, thiếu trọng tâm, trọng điểm: Một số dự án đầu tư chậm tiến độ, chưa tạo được sản phẩm đột phá. Nguồn vốn đầu tư còn hạn chế so với yêu cầu hiện đại hóa toàn diện, trong khi các dây chuyền sản xuất quốc phòng thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian thu hồi chậm.
Từ những hạn chế, bất cập nêu trên, trước những biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh công nghệ cao, chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin gia tăng, cũng như yêu cầu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo, biên giới quốc gia..., việc tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương của Đảng về xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm mà còn là yêu cầu sống còn đối với sự tồn vong của đất nước.

 
Thủ tướng Phạm Minh Chính thị sát một số sản phẩm công nghiệp quốc phòng
do Tập đoàn Viettel nghiên cứu, chế tạo

3. Điểm mới trong Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và ý nghĩa trong bối cảnh mới
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quan trọng và cấp bách đó, Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng chủ trương: “Đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại”10. So với các Đại hội trước, Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng về vấn đề này có những điểm mới đáng chú ý sau đây:
Một là, nếu như các Đại hội trước xác định công nghiệp quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng tâm, thì đến Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV, Đảng đã nâng cấp nhận thức đó thành “đột phá phát triển”. Sự thay đổi này không chỉ là vấn đề thuật ngữ, mà phản ánh bước nhảy trong tư duy lý luận: Đảng nhìn nhận công nghiệp quốc phòng - an ninh không chỉ là công cụ phục vụ quốc phòng, mà là động lực then chốt của phát triển đất nước, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Hai là, mở rộng nội hàm “lưỡng dụng”, từ kết hợp kinh tế với quốc phòng sang tích hợp công nghệ cao. Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII tại Đại hội XIV nhấn mạnh: “Xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh theo hướng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, gắn kết chặt chẽ và trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, có sức cạnh tranh quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”11. Nội hàm “lưỡng dụng” ở đây được hiểu theo nghĩa rộng hơn trước: không chỉ là doanh nghiệp quốc phòng sản xuất hàng dân dụng, mà là sự tích hợp công nghệ và nguồn lực giữa các lĩnh vực quốc phòng - an ninh - kinh tế - khoa học - giáo dục. Đây là tư duy mới, phù hợp xu thế Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khi ranh giới giữa sản xuất quốc phòng và dân dụng ngày càng mờ nhạt và năng lực công nghệ trở thành thước đo chủ quyền quốc gia.
Ba là, từ “làm chủ công nghệ” đến “tự chủ công nghệ lõi”: Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV khẳng định yêu cầu xây dựng công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh “tự chủ, tự lực, tự cường”, nhấn mạnh làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nguồn, công nghệ cao, tức là làm chủ chuỗi giá trị từ nghiên cứu, thiết kế, chế tạo đến sản xuất và ứng dụng. Đây là bước phát triển mới trong tư duy lý luận. Nếu như trước đây, “tự chủ” được hiểu là có thể sản xuất, sửa chữa, bảo dưỡng trang bị, thì nay “tự chủ” mang nghĩa làm chủ tri thức và công nghệ, tự quyết định phương hướng phát triển, tránh lệ thuộc vào nước ngoài, một điều kiện căn bản của nền quốc phòng hiện đại.
Bốn là, gắn kết công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh với chiến lược phát triển đất nước toàn diện, bền vững. Điểm nổi bật của Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV là đặt công nghiệp quốc phòng, an ninh trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia bền vững. Đó là sự kết hợp hữu cơ giữa xây dựng tiềm lực quốc phòng với phát triển kinh tế tri thức, chuyển đổi số, công nghiệp xanh, công nghệ cao, tạo sức mạnh tổng hợp mới. Điều này phản ánh bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng: từ “quốc phòng phục vụ phát triển” sang “quốc phòng là động lực của phát triển”.
Chủ trương “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV có nghĩa lý luận và thực tiễn rất sâu sắc:
Trước hết, chủ trương này khẳng định bản lĩnh độc lập, tự chủ của Đảng trong hoạch định đường lối phát triển đất nước. Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược, cục diện quốc tế phức tạp, việc đặt mục tiêu “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” thể hiện quyết tâm làm chủ vận mệnh, không phụ thuộc vào nguồn cung bên ngoài, bảo đảm an ninh quốc gia cả trong thời bình và thời chiến.
Thứ hai, về mặt lý luận, đây là bước phát triển sáng tạo của tư duy quốc phòng toàn dân trong điều kiện mới. Đảng đã chuyển từ tư duy “phòng thủ truyền thống” sang tư duy “quốc phòng, an ninh toàn diện, linh hoạt, chủ động”, trong đó công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh là hạt nhân công nghệ, nền tảng của sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Thứ ba, về mặt thực tiễn, chủ trương này tạo động lực mới cho phát triển khoa học công nghệ, công nghiệp công nghệ cao, góp phần thúc đẩy CNH, HĐH đất nước, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có năng lực sáng tạo, sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Từ tư duy “tự lực kháng chiến” trong thời kỳ đầu cách mạng đến chủ trương “đột phá phát triển công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” trong Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV, Đảng đã từng bước phát triển toàn diện tư duy lý luận về quốc phòng, an ninh, gắn liền với thực tiễn phát triển của đất nước. Đây không chỉ là sự kế thừa truyền thống “tự lực, tự cường” của dân tộc, mà còn là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Tư duy đó khẳng định một chân lý: muốn giữ vững độc lập, chủ quyền và phát triển bền vững, Việt Nam phải có nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh mạnh, hiện đại, lưỡng dụng, tự chủ. Chủ trương này là bước phát triển đột phá của lý luận quốc phòng, an ninh Việt Nam trong thời đại mới, mở ra hướng đi chiến lược cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thế kỷ XXI.
 


 
Ngày nhận bài: 29-10-2025; ngày đánh giá, thẩm định: 30-11-2025; ngày duyệt đăng: 9-12-2025
1. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 7, tr. 445
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, T. 37, tr. 995
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 47, tr. 372
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2016, T. 60 tr. 145
5. Theo: Hồ Quang Tuấn: “Phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới”, https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/quoc-phong-an-ninh-oi-ngoai1/-/2018/898502/phat-trien-cong-nghiep-quoc-phong-hien-dai%2C-luong-dung%2C-dap-ung-yeu-cau%2C-nhiem-vu-xay-dung-va-bao-ve-to-quoc-thoi-ky-moi.aspx
 6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 279
7. Hoàng Phương: “Nữ sĩ quan tiên phong nghiên cứu công nghệ tên lửa”, ttps://vnexpress.net/nu-si-quan-tien-phong-nghien-cuu-cong-nghe-ten-lua-4943331.html, ngày truy cập: 30-11-2025
8.  Theo: Toàn văn phát biểu tại của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Quân ủy Trung ương 6, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-nguyen-phu-trong-tai-hoi-nghi-quan-uy-trung-uong-6-119230704093258332.htm, ngày tru cập: 30-11-2025
9. Xem: Hùng Anh: “Sản xuất kinh tế của doanh nghiệp quốc phòng chưa tương xứng với tiềm năng”, Tạp chí Công nghiệp quốc phòng & Kinh tế, số 1 (184), năm 2022, tr. 58
10, 11. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015171703632.htm, ngày truy cập: 30-11-2025.
Đại tá, PGS, TS NGUYỄN VĂN SỰ
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
  Tổng Bí thư Tô Lâm với lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng 1. Quá trình hình thành chủ trươngNgay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trong bối cảnh đất nước phải đối mặt với thù trong giặc ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng đã sớm nhận thức sâu sắc về vai trò của nền công nghiệp quốc phòng tự lực, tự cường. Người khẳng định: “Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”1. Tư tưởng ấy được cụ thể hóa trong 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ: dù điều kiện vật chất thiếu thốn, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo hình thành các xưởng qu&acir

Tin khác cùng chủ đề

Về một số luận điểm của chủ nghĩa Mác trong kỷ nguyên số
Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV
MẠNG LƯỚI TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG MARX – LENIN TRONG THANH NIÊN TIỂU TƯ SẢN VIỆT NAM (1920 – 1930) – TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG VÀ NHÂN LỰC CỦA SỰ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Khánh Hòa tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng
Giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn hiện nay

Gửi bình luận của bạn