Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc là một trong những trụ cột nền tảng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết phân tích, làm rõ cơ sở lý luận và nội dung cốt lõi của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, phân tích quá trình Đảng và Nhà nước ta vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong việc xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc, đặc biệt thông qua các chủ trương lớn, chương trình mục tiêu quốc gia và hệ thống pháp luật nhằm thúc đẩy sự phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế.

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - kim chỉ nam trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - kim chỉ nam trong xây dựng và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta

1. Đặt vấn đề

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta. Kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng của dân tộc, Người đã phát triển hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc mang nội hàm sâu sắc, tầm nhìn chiến lược và giá trị lâu dài. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là triết lý hành động và phương pháp luận cách mạng, thấm sâu trong mọi giai đoạn lịch sử - từ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến, đến xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ hòa bình, đổi mới, hội nhập.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững, việc kế thừa và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc càng trở nên cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Điều này đặc biệt quan trọng trong xây dựng và thực thi chính sách dân tộc - lĩnh vực tác động trực tiếp đến hàng triệu đồng bào dân tộc thiểu số và giữ vai trò chiến lược đối với sự ổn định, phát triển của đất nước ta.

2. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò, sứ mệnh, sức mạnh của tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết toàn dân tộc. Người khẳng định: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”(1).

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc là một trong những nội dung cốt lõi và xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, phản ánh sâu sắc quan điểm nhân văn, cách mạng và khoa học của Người về vai trò, vị trí của sức mạnh cộng đồng trong tiến trình lịch sử của dân tộc. Đại đoàn kết dân tộc, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không chỉ là chiến lược vận động quần chúng mà còn là một phương thức tổ chức xã hội, là “cội nguồn của mọi thắng lợi” trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

a) Cơ sở hình thành tư tưởng

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành và phát triển trên nền tảng ba trụ cột chính:

Thứ nhất, kế thừa và phát huy truyền thống đoàn kết, cố kết cộng đồng trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Từ thời Hùng Vương dựng nước đến các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, dân tộc Việt Nam luôn biết phát huy tinh thần gắn bó keo sơn giữa các thành phần dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong bảo vệ và xây dựng đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh, với tư duy lịch sử sâu sắc, đã kế thừa truyền thống đó để phát triển thành một hệ tư tưởng mang tầm vóc thời đại.

Thứ hai, sự tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt là tư tưởng về vai trò của quần chúng nhân dân - lực lượng sáng tạo chân chính của lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt nguyên lý “quần chúng là người làm nên lịch sử” vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, coi đoàn kết toàn dân tộc không chỉ là yêu cầu chiến lược, mà còn là động lực nội tại của mọi phong trào cách mạng.

Thứ ba, được hun đúc và kiểm nghiệm qua thực tiễn cách mạng phong phú, từ phong trào giải phóng dân tộc đầu thế kỷ XX, đến việc lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ, cũng như trong xây dựng chính quyền nhân dân và phát triển đất nước. Những bài học từ thực tiễn cách mạng giúp Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày càng hoàn thiện tư tưởng đại đoàn kết trên cơ sở gắn lý luận với hành động, gắn nguyên tắc với tính linh hoạt trong tổ chức và vận dụng.

b) Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Một là, đại đoàn kết dân tộc là vấn đề sống còn của cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Theo Người, đoàn kết không phải là sách lược nhất thời mà là chiến lược lâu dài, là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng.

Hai là, khái niệm “dân tộc” trong tư tưởng Hồ Chí Minh mang nghĩa rộng, bao gồm mọi thành phần trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, giai cấp, giới tính, nghề nghiệp hay khu vực cư trú. Đại đoàn kết phải được thực hiện một cách toàn diện và rộng rãi nhất có thể.

Ba là, đại đoàn kết phải dựa trên nền tảng của lòng yêu nước, tinh thần nhân ái, khoan dung và tôn trọng sự khác biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò của sự tôn trọng đa dạng văn hóa, tín ngưỡng, phong tục, tập quán trong xây dựng khối đoàn kết. Người viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê-đăng hay Ba Na… đều là con cháu Việt Nam, máu đỏ da vàng, cùng sống trên mảnh đất hình chữ S này, phải yêu thương nhau như anh em một nhà”.

Bốn là, đại đoàn kết dân tộc phải gắn liền với công bằng, dân chủ và tiến bộ xã hội. Không thể xây dựng được khối đoàn kết thực chất nếu không đảm bảo quyền lợi, vị thế và sự tham gia bình đẳng của mọi dân tộc, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số.

c) Phương thức thực hiện đại đoàn kết

Thứ nhất, thành lập và phát huy vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất với các hình thức như Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhằm tập hợp sức mạnh toàn dân, từ công nhân, nông dân, trí thức đến các tầng lớp tôn giáo, dân tộc thiểu số, Việt kiều…

Thứ hai, thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ giữa các dân tộc, lấy phát triển làm trung tâm, đồng thời chú trọng bảo tồn văn hóa đặc thù.

Thứ ba, đề cao vai trò của cán bộ, đảng viên trong việc nêu gương và làm cầu nối đoàn kết giữa các dân tộc, trong đó cán bộ phải “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của nhân dân”.

Thứ tư, khơi dậy ý thức tự lực, tự cường của cộng đồng các dân tộc, gắn kết quyền lợi cá nhân, cộng đồng với lợi ích quốc gia, dân tộc. Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là di sản tư tưởng mang giá trị lịch sử sâu sắc, mà còn là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động cách mạng, chính trị, xã hội của đất nước.

3. Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta - kết quả hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là một hệ thống lý luận mang tính chỉ đạo cách mạng sâu sắc, mà còn được thể chế hóa một cách toàn diện trong đường lối, chủ trương và chính sách của Đảng, pháp luật và chương trình hành động của Nhà nước ta. Từ những luận điểm nền tảng về bình đẳng dân tộc, tôn trọng sự đa dạng, gắn bó máu thịt giữa các dân tộc trong cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh thành những chiến lược, chính sách cụ thể, nhất quán và xuyên suốt, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của từng giai đoạn lịch sử.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh: “Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị. Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”(2).

a) Quan điểm của Đảng ta về vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc

Ngay từ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng (năm 1930), vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc đã được đề cập như một nhiệm vụ trọng tâm trong cách mạng giải phóng dân tộc. Đặc biệt, từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời với bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo và đọc trước quốc dân đồng bào, tư tưởng về bình đẳng và quyền của các dân tộc được đặt nền móng hiến định.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định nhất quán quan điểm: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển” được thể hiện rõ trong các văn kiện quan trọng như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), các Nghị quyết Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về công tác dân tộc; Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 của Chính phủ ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045…

Đảng ta nhấn mạnh vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng vững chắc cho sự ổn định và phát triển bền vững đất nước. Chính sách dân tộc không chỉ là chính sách xã hội đơn thuần, mà là chính sách chiến lược mang tính toàn diện: từ phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế đến bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia, khẳng định vị thế của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.

b) Thể chế hóa tư tưởng Hồ Chí Minh trong pháp luật của Nhà nước

Một là, chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Những chương trình mục tiêu quốc gia, như: Chương trình 135, Chương trình 134, Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước trong việc rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các vùng, bảo đảm sự công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển.

Hai là, chính sách về giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực dân tộc thiểu số. Nhà nước thực hiện ưu tiên trong đầu tư giáo dục, nâng cao chất lượng dạy học ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, mở rộng hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú; khuyến khích và tạo điều kiện cho thanh niên dân tộc thiểu số học tập, trở thành nguồn cán bộ kế cận. Việc ban hành các chính sách tuyển sinh đại học, cao đẳng ưu tiên cho học sinh dân tộc thiểu số là minh chứng cụ thể cho việc thực hiện công bằng trong giáo dục, một nội dung thiết yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con người.

Ba là, chính sách về văn hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa các dân tộc. Tư tưởng Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa, xem đó là một nguồn lực của phát triển. Nhà nước ta đã và đang triển khai nhiều chính sách hỗ trợ bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc, thông qua các dự án sưu tầm, số hóa, phục dựng lễ hội, nghệ thuật dân gian, phong tục tập quán, cũng như hỗ trợ nghệ nhân dân gian truyền dạy văn hóa dân tộc cho thế hệ trẻ.

Bốn là, chính sách về tổ chức, sử dụng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số. Nhà nước chú trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số, đảm bảo đại diện dân tộc trong hệ thống chính trị các cấp, nhất là ở cơ sở, người dân làm chủ, đồng thời cũng là chủ thể tích cực của quá trình phát triển.

Năm là, chính sách bảo đảm an sinh xã hội và quyền lợi của các dân tộc thiểu số. Từ vấn đề đất ở, đất sản xuất, y tế, nước sạch đến tiếp cận thông tin và dịch vụ công - Nhà nước triển khai các chính sách hỗ trợ phù hợp với từng vùng, từng nhóm dân tộc thiểu số theo hướng đảm bảo thực chất, bền vững và nhân văn. Điều này phản ánh quan điểm xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc “giúp cho đồng bào có điều kiện phát triển thì khối đại đoàn kết mới thực sự vững chắc”.

4. Thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách dân tộc hiện nay

a) Thành tựu nổi bật trong quá trình hiện thực hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Kế thừa và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, trong nhiều thập niên qua, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và triển khai hệ thống chính sách dân tộc toàn diện, nhất quán, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Những thành tựu đạt được không chỉ thể hiện ở mặt lượng thông qua các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, mà còn có chiều sâu về chất lượng, phản ánh ở sự củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhấtvề kinh tế - xã hội. Nhiều chương trình trọng điểm như Chương trình 135, Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và gần đây là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030 đã tạo ra chuyển biến tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh, kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ, hệ thống giao thông, điện, nước, y tế, giáo dục được mở rộng. Nhiều mô hình phát triển kinh tế đặc thù vùng cao, vùng sâu được hình thành, góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Thứ hai, về văn hóa - xã hội. Bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số ngày càng được coi trọng bảo tồn và phát huy. Các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể được phục dựng, quảng bá thông qua các lễ hội, hoạt động truyền thông và giáo dục văn hóa dân tộc. Đồng thời, trình độ dân trí, tỷ lệ người dân tộc thiểu số tham gia vào hệ thống giáo dục các cấp đều tăng, góp phần thu hẹp dần khoảng cách phát triển giữa các vùng.

Thứ bavề chính trị - xã hội. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Sự hiện diện và tham gia của đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng. Vai trò của các tổ chức như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị -xã hội, Hội đồng Dân tộc, Hội đồng nhân dân các địa phương vùng dân tộc thiểu số ngày càng được phát huy, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thể hiện tiếng nói và nguyện vọng của đồng bào trong các chính sách công.

Thứ tưvề quốc phòng - an ninh. Nhờ chính sách dân tộc đúng đắn, hiệu quả, các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa được giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ý thức về bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia và tinh thần tự quản trong cộng đồng dân cư ngày càng cao, tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc, là yếu tố then chốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

b) Những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc hiện nay

Thứ nhất, bất bình đẳng phát triển giữa các vùng, các dân tộc vẫn tồn tại dai dẳng, đặc biệt ở các địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới. Mức sống, chất lượng giáo dục, y tế, việc làm và thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp hơn nhiều so với bình quân cả nước. Tình trạng tái nghèo, phụ thuộc vào hỗ trợ vẫn phổ biến ở một số nơi, cho thấy tính bền vững của các chính sách chưa cao.

Thứ hai, công tác thể chế hóa và điều phối chính sách dân tộc còn bất cập. Việc thiếu một khung pháp lý cao làm hạn chế hiệu quả của việc phân công, phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương. Đồng thời, còn tình trạng chồng chéo, phân tán nguồn lực, dẫn đến lãng phí và kém hiệu quả trong triển khai chính sách.

Thứ ba, chất lượng nguồn nhân lực dân tộc thiểu số vẫn là điểm nghẽn lớn. Tỷ lệ học sinh bỏ học còn cao; năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp của lao động dân tộc thiểu số còn thấp; tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số có trình độ cao vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Việc quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ người dân tộc thiểu số ở một số nơi còn mang tính hình thức, thiếu tầm nhìn chiến lược dài hạn.

Thứ tưnguy cơ mai một văn hóa truyền thống, đồng hóa bản sắc đang diễn ra, nhất là khi kinh tế thị trường và công nghệ thông tin phát triển nhanh chóng. Một số giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số chưa được định danh và thương mại hóa. Sự thiếu hụt trong cơ chế khuyến khích cộng đồng tự quản lý, bảo vệ văn hóa đang là lỗ hổng cần khắc phục.

Thứ năm, vấn đề dân tộc, tôn giáo và các yếu tố phức tạp từ bên ngoài có thể gây mất ổn định nếu không được theo dõi, xử lý kịp thời. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc, tôn giáo, nhân quyền” để chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây nhiễu loạn thông tin và làm suy giảm lòng tin của một bộ phận đồng bào vào chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung; chính sách đại đoàn kết dân tộc nói riêng.

Có thể thấy, những thành tựu đã đạt được là minh chứng sống động cho giá trị lý luận và thực tiễn của tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công tác dân tộc và chính sách đại đoàn kết dân tộc. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy hiệu quả bền vững, chính sách dân tộc cần có những đổi mới toàn diện, bắt đầu từ thể chế, nguồn lực, phương pháp tiếp cận, cho đến các cơ chế thực hiện, giám sát, đánh giá. Chỉ khi nào việc thực thi chính sách dân tộc thực sự lấy nhân dân làm trung tâm, tôn trọng sự đa dạng, đảm bảo công bằng phát triển và thúc đẩy sự tham gia chủ động của đồng bào các dân tộc thiểu số, thì khi đó tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc mới thật sự được hiện thực hóa một cách sâu sắc và toàn diện trong đời sống xã hội hiện nay.

5. Giá trị thời đại và đề xuất giải pháp

a) Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc

Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn trong sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng Nhà nước Việt Nam mới, mà còn hàm chứa những giá trị thời đại sâu sắc, bền vững, có khả năng định hướng cho tiến trình phát triển đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi mô hình phát triển hiện nay.

Thứ nhất, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện chiều sâu triết lý về sức mạnh của Nhân dân và năng lực tự cường dân tộc.

Trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò trung tâm, chủ thể của quần chúng nhân dân trong cách mạng và phát triển. Tuy nhiên, điểm độc đáo trong tư tưởng của Người là đã nâng tầm quan điểm ấy thành một hệ thống triết lý nhân sinh và tổ chức chính trị - xã hội, trong đó sức mạnh của một quốc gia không chỉ đến từ tiềm lực vật chất, mà trước hết là từ sự gắn bó, liên kết và đồng thuận xã hội của toàn thể dân tộc. Điều này đặc biệt phù hợp trong bối cảnh hiện nay, khi tính liên kết xã hội, niềm tin công chúng và sự tham gia chủ động của người dân ngày càng trở thành yếu tố quyết định hiệu lực quản trị và sức mạnh quốc gia.

Thứ hai, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh góp phần định hình một mô hình phát triển lấy con người làm trung tâm, mang tính bao trùm và bền vững.

Trong khi nhiều mô hình phát triển hiện đại rơi vào tình trạng tăng trưởng không đồng đều, phân hóa giàu nghèo, thì tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với nguyên lý “mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, thành phần giai cấp, đều là con Lạc cháu Hồng”, nhấn mạnh phát triển phải đi đôi với công bằng, lấy sự tiến bộ của con người và cộng đồng làm thước đo. Điều này hoàn toàn phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc và các khuyến nghị chính sách toàn cầu hiện nay, trong đó không để ai bị bỏ lại phía sau là nguyên tắc xuyên suốt.

Thứ ba, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ toàn diện ở Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kêu gọi đoàn kết như một giá trị đạo đức, mà còn kiến tạo một hệ thống thể chế và tổ chức chính trị để bảo đảm đoàn kết thực chất, thông qua thiết chế Mặt trận dân tộc thống nhất, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, cộng đồng tôn giáo, dân tộc thiểu số và các giai tầng xã hội. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu đổi mới mô hình quản trị nhà nước, tăng cường dân chủ và pháp quyền đang được đặt ra cấp bách, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Người không chỉ là định hướng chính trị mà còn là cơ sở để thiết kế các cơ chế bảo đảm sự tham gia, đối thoại, đồng thuận xã hội, những yếu tố thiết yếu cho một nền dân chủ thực chất.

Thứ tư, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh có khả năng ứng dụng linh hoạt trong bối cảnh đa dạng hóa xã hội và hội nhập toàn cầu.

Một đặc điểm nổi bật của thế kỷ XXI là sự gia tăng nhanh chóng của tính đa dạng về văn hóa, tôn giáo, lối sống, cùng với những thách thức xuyên quốc gia như biến đổi khí hậu, xung đột bản sắc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan và phân hóa xã hội. Trong bối cảnh đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc không loại trừ, trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt và đề cao mẫu số chung về lợi ích dân tộc - cộng đồng, trở thành cơ sở lý luận quý báu để xử lý hài hòa mối quan hệ giữa “thống nhất” và “đa dạng”, giữa “bảo tồn bản sắc” và “hội nhập văn hóa”.

Thứ năm, tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nền tảng đạo lý và giá trị mềm của Việt Nam trong quan hệ quốc tế.

Trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị và tình hình chính trị trong khu vực và thế giới có những bất ổn, khó lường, Việt Nam kiên định đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác, phát triển và đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần nhân văn, khoan dung, thấu hiểu và đồng hành, không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia mà còn có thể trở thành một phần của “quyền lực mềm” Việt Nam trên trường quốc tế, thể hiện qua chính sách ngoại giao nhân dân và các diễn đàn khu vực, toàn cầu vì hòa bình và phát triển bền vững.

b) Một số giải pháp phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

Một là, tiếp tục đổi mới tư duy lý luận và nâng cao nhận thức chính trị về đại đoàn kết dân tộc trong điều kiện mới.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập sâu rộng và sự chuyển dịch mạnh mẽ về cấu trúc xã hội, đại đoàn kết dân tộc cần được nhận thức không chỉ như một giá trị truyền thống, mà còn là một phương thức tổ chức xã hội hiện đại, dựa trên nguyên tắc dân chủ, công bằng và bao trùm. Đổi mới tư duy lý luận ở đây bao gồm: (1) Khẳng định và phát triển nội hàm của tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xã hội đa dạng lợi ích; (2) Nhấn mạnh tính chủ động, bình đẳng và đối thoại trong khối đại đoàn kết, đặc biệt trong mối quan hệ giữa nhà nước với các cộng đồng dân tộc thiểu số, các tổ chức xã hội, tôn giáo và các nhóm xã hội dễ bị tổn thương; (3) Tăng cường nghiên cứu lý luận chuyên sâu, kết hợp giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với các lý thuyết hiện đại về phát triển bao trùm, quản trị đa văn hóa và dân chủ tham gia.

Hai là, thể chế hóa và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc theo tinh thần “đoàn kết, bình đẳng, phát triển”.

Để hiện thực hóa tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, cần tiếp tục quan tâm nghiên cứu một số nội dung sau: (1) Rà soát và hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách dân tộc, bảo đảm tính đồng bộ, liên thông và sát hợp với điều kiện thực tiễn từng vùng, từng dân tộc. Việc xây dựng Luật Dân tộc cần được đẩy nhanh tiến độ để tạo cơ sở pháp lý vững chắc, minh bạch và nhất quán cho việc thực thi chính sách; (2) Xây dựng chính sách phát triển vùng dân tộc thiểu số theo hướng tích hợp, bền vững và dựa vào cộng đồng, gắn kết giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo tồn văn hóa, ổn định chính trị và bảo vệ môi trường; (3) Thiết kế các cơ chế đặc thù linh hoạt, có tính tự quản và trao quyền cao hơn cho cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt trong việc xây dựng quy hoạch, giám sát thực hiện các dự án, chương trình ở địa phương.

Ba là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số.

Con người là nhân tố trung tâm trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Do đó: (1) Cần tiếp tục nâng cao chất lượng công tác đào tạo, quy hoạch và bố trí cán bộ dân tộc thiểu số ở tất cả các cấp, nhất là cấp cơ sở, nơi gắn liền với đời sống thực tiễn của đồng bào; (2) Xây dựng đội ngũ cán bộ vừa có phẩm chất chính trị vững vàng, am hiểu văn hóa, ngôn ngữ dân tộc, vừa có năng lực quản trị hiện đại, đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số, xây dựng chính quyền số và phát triển kinh tế vùng bền vững; (3) Phát huy vai trò của người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số như một kênh kết nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường sự đồng thuận xã hội.

Bốn là, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc như nền tảng tinh thần của khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc luôn đề cao việc tôn trọng sự đa dạng, thống nhất trong đa dạng. Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu một số nội dung sau: (1) Nhà nước cần đầu tư chiều sâu cho các hoạt động bảo tồn, phục hồi và phát triển di sản văn hóa các dân tộc thiểu số, đặc biệt là ngôn ngữ, lễ hội, tri thức dân gian và nghề thủ công truyền thống; (2) Xây dựng các thiết chế văn hóa đa chức năng ở vùng dân tộc thiểu số nhằm tạo không gian giao lưu, kết nối văn hóa giữa các cộng đồng; (3) Lồng ghép các nội dung giáo dục văn hóa dân tộc trong hệ thống giáo dục phổ thông và truyền thông đại chúng, để thế hệ trẻ hiểu, yêu và tự hào về giá trị đa dạng văn hóa dân tộc.

Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là hiện thân của khối đại đoàn kết, là nơi thể hiện sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh, do đó: (1) Cần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội và vận động nhân dân tham gia xây dựng chính sách ở cơ sở của Mặt trận và các tổ chức thành viên; (2) Tăng cường các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng đời sống văn hóa mới, xóa đói giảm nghèo, phát triển cộng đồng dân tộc thiểu số từ chính nội lực của nhân dân; (3) Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để các tổ chức này có thể kết nối, truyền thông và tương tác hiệu quả hơn với cộng đồng, đặc biệt là giới trẻ dân tộc thiểu số.

Sáu là, tăng cường nghiên cứu, tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận về đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới.

Cần tiếp tục quan tâm triển khai hiệu quả một số nội dung như: (1) Đẩy mạnh nghiên cứu liên ngành (kết hợp khoa học chính trị, dân tộc học, xã hội học, phát triển học...) nhằm cập nhật những thách thức mới về công tác dân tộc trong bối cảnh số hóa, di cư, biến đổi khí hậu và hội nhập; (2) Tổng kết mô hình hiệu quả từ các địa phương, cộng đồng, cá nhân tiêu biểu để nhân rộng và xây dựng hệ thống lý luận phát triển về đoàn kết dân tộc gắn với phát triển bền vững; (3) Đưa tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào giảng dạy sâu rộng trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chính trị, nhất là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, sinh viên và trí thức trẻ.

Để tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục phát huy giá trị thời đại và trở thành kim chỉ nam thực sự trong hoạch định và thực thi chính sách dân tộc, cần một hệ thống giải pháp toàn diện, vừa mang tính chiến lược, vừa cụ thể hóa trong từng lĩnh vực, từng địa bàn. Trong đó, kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố truyền thống và hiện đại, giữa tư tưởng và thể chế, giữa phát triển kinh tế và bảo tồn văn hóa, chính là con đường để củng cố sức mạnh đại đoàn kết, nền tảng vững chắc cho phát triển đất nước bền vững, bao trùm và hài hòa trong thế kỷ XXI. Đồng thời, việc nâng cao nhận thức lý luận, tăng cường thể chế hóa, phát triển đội ngũ cán bộ dân tộc, bảo tồn văn hóa và mở rộng không gian đối thoại, tham gia của đồng bào các dân tộc thiểu số là những giải pháp cấp thiết và lâu dài. Đó cũng chính là cách thiết thực nhất để phát huy di sản tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam trong thời đại mới./.

---------------------------------------------

Ghi chú:

(1), (2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.244, tr.244.

---------------------------------------------

Tài liệu tham khảo:

1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011.

2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG-ST, H.2011.

3. Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi thi đua ái quốc, Nxb Văn hóa Dân tộc, H.2015.

4. Ban Chấp hành Trung ương, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Nxb CTQG-ST, H.2011.

5. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 24‑NQ/TW về công tác dân tộc, Văn phòng Trung ương Đảng, H.2003.

6. Chính phủ, Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 28/01/2022 ban hành Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

7. Đỗ Văn Chiến, Đại đoàn kết toàn dân tộc - cội nguồn của ý chí, niềm tin, sức mạnh để xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới,  https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/dai-doan-ket-toan-dan-toc-coi-nguon-cua-y-chi-niem-tin-suc-manh-de-xay-dung-bao-ve-to-quoc-trong-ky-nguyen-moi, 2025.

8. Hầu A Lềnh, Thực hiện chính sách dân tộc góp phần củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, https://mattran.org.vn/dan-toc-ton-giao/thuc-hien-chinh-sach-dan-toc-gop-phan-cung-co-tang-cuong-khoi-dai-doan-ket-dan-toc-56114.html, 2024.

ThS Đặng Văn Dũng - Học viện Dân tộc

ThS Hà Thị Giang - Học viện Dân tộc

1. Đặt vấn đề Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành kim chỉ nam xuyên suốt trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng và Nhà nước ta. Kế thừa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, cố kết cộng đồng của dân tộc, Người đã phát triển hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc mang nội hàm sâu sắc, tầm nhìn chiến lược và giá trị lâu dài. Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây không chỉ là khẩu hiệu chính trị, mà là triết lý hành động và phương pháp luận cách mạng, thấm sâu trong mọi giai đoạn lịch sử - từ đấu tranh giành độc lập, kháng chiến, đến xây dựng và phát

Tin khác cùng chủ đề

Bồi dưỡng ý thức quốc phòng cho cán bộ quân sự cấp xã theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hạnh phúc
Đặc điểm, nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng về đạo đức
Có Bác, có Đảng, có những mùa Xuân đất nước
Giá trị đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và sự vận dụng hiện nay

Gửi bình luận của bạn