Trên cơ sở khái quát vai trò của giáo dục chính trị, tư tưởng, bài viết phân tích những tác động nổi bật của không gian mạng, sự gia tăng rủi ro thông tin xấu độc và các biểu hiện “học đối phó”, thiếu liên hệ thực tiễn, hạn chế về tính hấp dẫn và tính chuyển hóa trong một bộ phận sinh viên. Từ đó, đề xuất nhóm giải pháp đồng bộ: nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các chủ thể; hoàn thiện cơ chế, quy chế và phối hợp liên lực lượng; đổi mới, hiện đại hóa nội dung gắn thực tiễn; đa dạng hóa phương pháp theo hướng đối thoại – trải nghiệm – số hóa; bảo đảm nguồn lực; tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá theo kết quả đầu ra.

Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên
Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

1. Đặt vấn đề

Trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sinh viên là lực lượng trí thức trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là chủ thể tiếp nhận tri thức hiện đại, vừa là nguồn nhân lực chất lượng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đường lối của Đảng nhất quán khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; trong đó, giáo dục chính trị, tư tưởng là bộ phận cấu thành của mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, góp phần bồi dưỡng thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng, đạo đức, lối sống và ý thức công dân cho thế hệ trẻ. Trên nền tảng đó, việc nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên không chỉ là yêu cầu nội tại của hệ thống giáo dục đại học, mà còn là nhiệm vụ chính trị thường xuyên nhằm củng cố “sức đề kháng” tư tưởng, tăng cường niềm tin, bản lĩnh, trách nhiệm xã hội, qua đó, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng và ổn định, phát triển đất nước trong tình hình mới1.

Nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Việt Nam trong bối cảnh hiện nay là yêu cầu vừa cấp thiết vừa lâu dài, nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao với nhiệm vụ bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống và trách nhiệm công dân. Trên cơ sở đó, bài viết hướng tới làm rõ nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên; đề xuất tiêu chí đánh giá chất lượng; nhận diện thực trạng chủ yếu; đồng thời luận giải quan điểm và các giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Việt Nam theo hướng khoa học, đồng bộ, phù hợp thực tiễn và đáp ứng yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

2. Vai trò của hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên giữ vai trò định hướng nền tảng, bảo đảm tính thống nhất giữa mục tiêu đào tạo tri thức – kỹ năng với mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về phẩm chất và năng lực trong thời kỳ mới.

Thứ nhất, giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, củng cố bản lĩnh chính trị và niềm tin xã hội cho sinh viên – lực lượng trí thức trẻ trực tiếp tham gia kiến tạo tương lai đất nước. Ở tầm giá trị, vai trò của hoạt động này thể hiện ở việc bồi dưỡng tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc; nuôi dưỡng khát vọng phát triển; khẳng định trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình, cộng đồng và Tổ quốc, phù hợp với yêu cầu xây dựng con người Việt Nam thời kỳ mới được nhấn mạnh trong các định hướng của Đảng.

Thứ hai, giáo dục chính trị, tư tưởng là trụ cột quan trọng trong xây dựng chuẩn mực đạo đức, kỷ luật, văn hóa học đường và ý thức công dân cho sinh viên. Trong bối cảnh mở rộng quy mô và đa dạng hóa hệ thống giáo dục đại học, việc bảo đảm kỷ cương, nền nếp và “định hướng giá trị” cho người học càng trở nên cần thiết. Quy mô lớn này đặt ra yêu cầu tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng hệ thống, bền vững, gắn với rèn luyện và tự rèn luyện. Cùng với đó, các quy định quản lý đào tạo và đánh giá rèn luyện người học tạo cơ sở để “thể chế hóa” yêu cầu giáo dục tư tưởng – đạo đức trong nhà trường thông qua tiêu chí, quy trình và sử dụng kết quả rèn luyện.

Thứ ba, giáo dục chính trị, tư tưởng có vai trò trực tiếp trong việc nâng cao “sức đề kháng” của sinh viên trước thông tin xấu độc, sai sự thật và các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Dữ liệu số gần đây cho thấy, Việt Nam có khoảng 77,93 triệu người dùng internet đầu năm 2023; 78,44 triệu đầu năm 2024; và 79,8 triệu đầu năm 2025. Số “danh tính người dùng mạng xã hội” tương ứng khoảng 70 triệu (01/2023), 72,7 triệu (01/2024) và 76,2 triệu (01/2025)2. Trong môi trường truyền thông số có tốc độ lan truyền nhanh, thuật toán phân phối nội dung và nguy cơ thao túng nhận thức, hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng giúp sinh viên hình thành năng lực nhận diện, kiểm chứng thông tin, tư duy phản biện xã hội và thái độ ứng xử có trách nhiệm trên không gian mạng. Đồng thời, việc quán triệt yêu cầu “tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch” có ý nghĩa như một định hướng chính trị, tư tưởng xuyên suốt, tạo cơ sở để tổ chức hoạt động giáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, hành vi số của sinh viên.

Thứ tư, giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần xây dựng năng lực hội nhập và năng lực hành động xã hội của sinh viên theo hướng “vừa hồng, vừa chuyên”, kết hợp giữa trí tuệ – đạo đức – trách nhiệm. Ở phương diện hành động, nội dung chính trị, tư tưởng không chỉ dừng ở truyền thụ lý luận mà còn định hướng động cơ học tập đúng đắn, bồi dưỡng tinh thần cống hiến, khuyến khích sinh viên tham gia các phong trào rèn luyện, tình nguyện, nghiên cứu khoa học và thực hành công dân.

Thứ năm, giáo dục chính trị, tư tưởng là một phương thức quan trọng để hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật, chuẩn mực trách nhiệm và đạo đức số cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số. Khung pháp lý về an ninh mạng đã xác lập các nguyên tắc bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; đồng thời đặt ra yêu cầu trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan, đây là căn cứ để lồng ghép giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, tư tưởng, giúp sinh viên nhận thức đúng quyền, nghĩa vụ, nâng cao năng lực tự bảo vệ và ứng xử văn minh trên môi trường số.

3. Bối cảnh mới và những tác động tới hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Bối cảnh hiện nay đặt hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Việt Nam trước những biến đổi nhanh, sâu và đa chiều. Những biến đổi đó có thể khái quát theo các nhóm tác động chủ yếu sau.

Một là, chuyển đổi số và sự mở rộng “không gian mạng” đã làm thay đổi căn bản môi trường hình thành nhận thức, thái độ và hành vi chính trị của sinh viên. Việt Nam ghi nhận quy mô người dùng internet và mạng xã hội lớn, tăng đều giai đoạn 2023 – 2025. Trong điều kiện đó, sinh viên thuộc nhóm sử dụng mạng xã hội thường xuyên, vừa là đối tượng tiếp nhận thông tin nhanh, vừa có khả năng trở thành chủ thể sản xuất, lan tỏa nội dung. Điều này tạo tiền đề thuận lợi để giáo dục chính trị, tư tưởng mở rộng kênh truyền thông, tăng tính tương tác, cá thể hóa trải nghiệm học tập; đồng thời cũng làm nổi lên yêu cầu quản trị nội dung, quản trị rủi ro truyền thông, và chuẩn hóa năng lực số trong đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý.

Hai là, cạnh tranh thông tin, thao túng nhận thức và lan truyền quan điểm sai trái, thù địch trên nền tảng số đặt ra thách thức trực diện đối với mục tiêu xây dựng bản lĩnh chính trị, củng cố niềm tin, hình thành lập trường vững vàng cho sinh viên. Các nền tảng mạng xã hội trở thành kênh lan truyền nhanh, rộng; các thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý cực đoan có thể “đóng gói” dưới dạng nội dung giải trí, tin giật gân, hoặc “đánh vào cảm xúc” để tăng khả năng lan tỏa. Nhiều phân tích trong nghiên cứu về giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trên không gian mạng đã nhấn mạnh đặc điểm “lan truyền nhanh qua mạng xã hội” và nguy cơ bị khai thác để phát tán luận điệu sai trái, xuyên tạc, công kích đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước3.

Ba là, rủi ro an ninh mạng và tội phạm số gia tăng tác động gián tiếp nhưng mạnh mẽ tới niềm tin xã hội và hành vi công dân số của sinh viên. Các báo cáo cho thấy thiệt hại do lừa đảo trực tuyến ở Việt Nam năm 2024 được ước tính rất lớn (ví dụ ước tính khoảng 18,9 nghìn tỷ đồng)4. Đồng thời, các hiện tượng như giả mạo/phishing, tấn công DDoS, mã độc tống tiền… tiếp tục gia tăng, tạo ra môi trường thông tin “nhiễu – độc – khó kiểm chứng”, ảnh hưởng tới tâm lý, thói quen tiếp nhận thông tin và văn hóa ứng xử của người học.

Bốn là, quy mô sinh viên lớn và tính phân tầng đa dạng trong hệ thống giáo dục làm tăng độ phức tạp của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng. Quy mô lớn, khác biệt vùng miền, điều kiện kinh tế – xã hội, mức độ tiếp cận công nghệ, đặc điểm văn hóa cộng đồng… dẫn tới yêu cầu thiết kế hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng “phân nhóm đối tượng – linh hoạt phương thức – cá thể hóa mức độ”, thay vì tiếp cận đồng loạt. Nếu không đổi mới, nguy cơ “hình thức hóa”, “học để đối phó” có thể gia tăng, làm suy giảm hiệu quả chuyển hóa từ nhận thức sang thái độ và hành vi.

Năm là, định hướng, chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tạo ra khuôn khổ chính trị – pháp lý mới, đặt yêu cầu cao hơn đối với chất lượng, hiệu quả và tính chiến đấu của giáo dục chính trị, tư tưởng trong nhà trường. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 xác lập mục tiêu phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp; thúc đẩy đổi mới phương thức sống, làm việc, quản lý5. Đồng thời, Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh yêu cầu tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch; trong đó đặt trọng tâm tuyên truyền, giáo dục, nhất là đối với thế hệ trẻ trên internet6.

Từ các nhóm tác động trên có thể rút ra một số hệ quả mang tính phương pháp luận cho hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng đối với sinh viên Việt Nam trong bối cảnh mới: (1) chuyển trọng tâm từ “truyền đạt” sang “bồi dưỡng năng lực” (tư duy phản biện, kiểm chứng thông tin, kỹ năng tranh luận, năng lực công dân số); (2) kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục lý luận với giáo dục thực tiễn, giữa thuyết phục và nêu gương, giữa “xây” và “chống”; (3) đổi mới phương thức tổ chức theo hướng số hóa, đa nền tảng nhưng có quản trị nội dung và chuẩn mực đạo đức – pháp lý rõ ràng; (4) nâng cao năng lực đội ngũ và hệ sinh thái phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội, nhằm tạo “môi trường giáo dục tổng thể” bảo đảm tính bền vững của kết quả giáo dục.

4. Thực trạng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay 

Về mặt kết quả, có thể ghi nhận công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên thời gian qua đã được quan tâm chỉ đạo và tổ chức với hình thức tương đối đa dạng, như: (1) giáo dục thông qua chương trình các môn lý luận chính trị, gắn với mục tiêu hình thành thế giới quan khoa học, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, củng cố niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; (2) giáo dục thông qua hoạt động của Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên, các phong trào thi đua, tình nguyện, rèn luyện; (3) giáo dục thông qua truyền thông nhà trường và các kênh số, góp phần lan tỏa giá trị tích cực và định hướng nhận thức trong môi trường nhiều nguồn tin. Thực tiễn phong trào sinh viên cũng phản ánh nỗ lực “chuẩn hóa” các giá trị rèn luyện: Trung ương Hội Sinh viên Việt Nam nêu giai đoạn 2018 – 2023 có 2.046.593 sinh viên đăng ký phấn đấu danh hiệu và 99.327 sinh viên đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” cấp trường; riêng năm học 2023 – 2024, công bố 357 sinh viên đạt danh hiệu “Sinh viên 5 tốt” cấp trung ương7.

Ở bình diện nhận thức và mức độ quan tâm, một số dữ liệu khảo sát gần đây cho thấy xu hướng tích cực chiếm ưu thế nhưng vẫn tồn tại khoảng trống đáng lưu ý. Khảo sát trong hệ thống 7 trường thành viên của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh với 2.590 sinh viên, cho thấy, 80,8% tự đánh giá “hiểu biết và quan tâm” đối với công tác chính trị, tư tưởng; 79,3% cho biết tiếp thu kiến thức từ các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng; đồng thời, qua các phương tiện truyền thông (tivi, báo, internet, mạng xã hội…); về mức độ quan trọng, nhóm trả lời “quan trọng” và “rất quan trọng” lần lượt là 41,6% và 42,1%. Những số liệu này gợi ý rằng giáo dục chính trị, tư tưởng vẫn có “kênh truyền dẫn” chủ đạo là chương trình học chính khóa, đồng thời chịu tác động ngày càng rõ của môi trường truyền thông số8.

Tuy nhiên, thực trạng cũng chỉ ra các biểu hiện hạn chế cần nhìn nhận thẳng thắn theo tinh thần xây dựng. Ngay trong khảo sát nêu trên, vẫn có 4,7% sinh viên đánh giá “rất không quan trọng” và 1,4% đánh giá “không quan trọng” đối với công tác chính trị, tư tưởng. Đây là tỷ lệ không lớn nhưng có ý nghĩa cảnh báo, bởi trong điều kiện thông tin đa chiều và cạnh tranh diễn ngôn trên không gian mạng, “khoảng trống nhận thức” dù nhỏ cũng có thể trở thành điểm bị tác động, dẫn dắt, nhất là khi sinh viên là nhóm sử dụng mạng xã hội với cường độ cao và dễ tiếp xúc các nội dung sai lệch được “đóng gói” hấp dẫn9.

Về nội dung, phương pháp, hạn chế nổi bật thường được chỉ ra là: một bộ phận sinh viên xem nhẹ, học đối phó các học phần lý luận chính trị; khả năng liên hệ giữa tri thức lý luận với vấn đề thực tiễn còn mờ nhạt; phương pháp tổ chức dạy – học ở một số nơi chậm đổi mới, thiên về truyền thụ một chiều, giảm sức hấp dẫn; việc tận dụng công nghệ và thiết kế học liệu số đôi khi còn dừng ở mức “chuyển đổi hình thức” (ví dụ: trình chiếu chữ), chưa tạo được trải nghiệm học tập có tính tương tác – phản biện để hình thành bản lĩnh và năng lực “tự miễn dịch” trước thông tin xấu độc. Đồng thời, có tình trạng vai trò của các tổ chức đoàn thể sinh viên ở một số cơ sở đào tạo chưa được phát huy tối đa, thiếu các mô hình, diễn đàn tranh biện – đối thoại học thuật đủ sức thuyết phục và dẫn dắt, khiến giáo dục chính trị, tư tưởng chưa trở thành nhu cầu tự thân của một bộ phận sinh viên.

Về môi trường và điều kiện bảo đảm, thực tiễn quản lý người học cho thấy giáo dục chính trị, tư tưởng không thể tách rời xây dựng môi trường văn hóa học đường an toàn, lành mạnh và phối hợp nhà trường – gia đình – xã hội. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 26/01/2024 về tăng cường phối hợp phòng, chống bạo lực học đường, phòng ngừa tội phạm và tệ nạn xã hội trong học sinh, sinh viên cho thấy đây là vấn đề mang tính hệ thống, tác động trực tiếp đến hiệu quả giáo dục đạo đức, lối sống và định hướng giá trị cho người học. Nếu môi trường giáo dục thiếu an toàn, thiếu chuẩn mực và thiếu cơ chế phối hợp, thì giáo dục chính trị, tư tưởng khó đạt chiều sâu, dễ rơi vào hình thức, “đúng quy trình” nhưng “chưa mạnh chuyển hóa”.

Tổng hợp các biểu hiện trên có thể khái quát: giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Việt Nam hiện nay đã có nền tảng tổ chức tương đối đồng bộ, có nhiều điểm sáng về phong trào và tỷ lệ quan tâm tích cực; song vẫn tồn tại thách thức về tính hấp dẫn – tính thuyết phục – tính chuyển hóa, đặc biệt trong môi trường số và trước tác động của thông tin sai lệch, quan điểm sai trái, thù địch. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ theo hướng tăng tính khoa học, tính thực tiễn, tính đối thoại; đồng thời nâng cao năng lực chủ thể giáo dục và chất lượng môi trường văn hóa học đường, để giáo dục chính trị, tư tưởng thực sự trở thành “sức đề kháng” và “năng lực hành động” của sinh viên trong bối cảnh hiện nay.

4. Một số giải pháp

Thứ nhất, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo, cán bộ, giảng viên và sinh viên về vị trí của giáo dục chính trị, tư tưởng.

Trước hết, cần thống nhất nhận thức rằng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên là nhiệm vụ vừa mang tính chiến lược lâu dài, vừa có yêu cầu cấp bách trước tác động phức hợp của môi trường số và hội nhập quốc tế. Trên bình diện chính trị, nhiệm vụ này trực tiếp góp phần củng cố “sức đề kháng” tư tưởng, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng; làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; đồng thời nâng cao năng lực nhận diện, phản biện và đấu tranh với thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng. Trên bình diện giáo dục – đào tạo, việc nâng cao nhận thức và trách nhiệm cần gắn với mục tiêu “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo”, coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, trách nhiệm công dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; từ đó chuyển hóa nhận thức thành chuẩn mực hành động trong học tập, rèn luyện và cống hiến của sinh viên.

Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản, quy chế, cơ chế phối hợp về giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng phụ thuộc đáng kể vào mức độ “thể chế hóa” và “vận hành hóa” bằng các quy chế, quy trình và cơ chế phối hợp liên ngành, liên chủ thể. Theo đó, cần rà soát, đồng bộ hóa các quy định liên quan công tác sinh viên và đánh giá rèn luyện, bảo đảm lồng ghép hợp lý các yêu cầu về giáo dục chính trị, tư tưởng trong quản trị nhà trường, trong chuẩn đầu ra, trong hoạt động cố vấn học tập và trong đánh giá kết quả rèn luyện theo quy định hiện hành. Đồng thời, cơ chế phối hợp giữa nhà trường – tổ chức Đoàn, Hội – gia đình – địa phương – cơ quan quản lý nhà nước cần được thiết kế theo hướng rõ vai trò, rõ trách nhiệm, rõ kênh thông tin và rõ tiêu chí kiểm chứng kết quả; chú trọng các chương trình bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống và khát vọng cống hiến cho thế hệ trẻ theo các chương trình cấp quốc gia.

Thứ ba, đổi mới, hiện đại hóa nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Đổi mới nội dung cần quán triệt nguyên tắc: kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đồng thời, hiện đại hóa cách tiếp cận để nội dung “đi cùng nhịp” với vấn đề thực tiễn. Về cấu trúc nội dung, ngoài các tri thức cốt lõi về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cần tăng cường các chuyên đề gắn với những vấn đề mới nổi: chuyển đổi số và văn hóa số, đạo đức công vụ và liêm chính, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, an ninh phi truyền thống, chuyển đổi xanh – kinh tế tuần hoàn, tinh thần khởi nghiệp – đổi mới sáng tạo, trách nhiệm xã hội và nghĩa vụ công dân trong xã hội hiện đại. Về chiều sâu giá trị, nội dung cần gắn với yêu cầu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các “tình huống đạo đức” và “tình huống công dân” cụ thể; chú trọng năng lực tự soi – tự sửa, phòng ngừa biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ môi trường học đường.

Về tính thuyết phục, nội dung phải tăng cường “liên hệ thực tiễn” bằng dữ liệu và ví dụ cập nhật, nhất là những vấn đề mà sinh viên thường gặp trên môi trường số (tin giả, thao túng cảm xúc, cực đoan hóa quan điểm, công kích biểu tượng…), qua đó hình thành năng lực miễn dịch thông tin và bản lĩnh phản biện dựa trên lập luận khoa học.

Thứ tư, đa dạng hóa hình thức, phương pháp giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Đa dạng hóa phải dựa trên logic sư phạm hiện đại: lấy người học làm trung tâm nhưng không “trung tính hóa” mục tiêu chính trị; kết hợp hài hòa giữa giáo dục tri thức – giáo dục thái độ – giáo dục hành vi. Một mặt, cần đổi mới phương pháp dạy học các học phần lý luận chính trị theo hướng tăng thảo luận, tranh biện, học qua vấn đề, học qua dự án và học qua tình huống; đề cao năng lực lập luận, năng lực phản biện và năng lực đối thoại dựa trên chứng cứ. Mặt khác, cần nâng tầm các hoạt động trải nghiệm: “về nguồn”, thực tế cơ sở, tham gia hoạt động tình nguyện, an sinh xã hội, nghiên cứu khoa học sinh viên, mô hình “mỗi sinh viên một sản phẩm truyền thông tích cực”, câu lạc bộ lý luận trẻ, câu lạc bộ tranh biện… để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện và tự lan tỏa giá trị. Đặc biệt, trong điều kiện Việt Nam có mức độ sử dụng internet và mạng xã hội rất cao, phương pháp giáo dục cần “hiện diện có tổ chức” trên không gian số: sử dụng LMS, lớp học kết hợp (blended learning), học liệu số, podcast/short-video giáo dục; xây dựng mạng lưới cộng tác viên, trang/nhóm chính thống để định hướng, phản hồi nhanh và bồi dưỡng kỹ năng khai thác, sử dụng thông tin lành mạnh cho sinh viên theo các mục tiêu đến năm 2025.

Cách tiếp cận này không chỉ tăng độ phủ và tính hấp dẫn của giáo dục chính trị, tư tưởng, mà còn tạo “không gian đối thoại an toàn” để sinh viên luyện năng lực nhận diện, phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng thái độ khoa học, thuyết phục và đúng chuẩn mực.

Thứ năm, bảo đảm cơ sở vật chất, tài chính giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Muốn đổi mới thực chất, cần bảo đảm điều kiện thực thi, trọng tâm là đầu tư hạ tầng và nền tảng số phục vụ giáo dục (hệ thống LMS ổn định, phòng học thông minh, studio/hệ thống ghi hình, hậu kỳ học liệu, kho học liệu số, thư viện số), gắn với định hướng chuyển đổi số quốc gia và yêu cầu xây dựng môi trường số an toàn, nhân văn trong các cơ sở giáo dục. Bên cạnh đó, cần có cơ chế bố trí kinh phí thường xuyên cho: (1) bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và lực lượng làm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; (3) tổ chức hoạt động trải nghiệm – đối thoại – tranh biện; (3) sản xuất học liệu số; (4) công tác truyền thông nội bộ và quản trị rủi ro truyền thông. Việc bảo đảm tài chính nên gắn với đánh giá hiệu quả đầu ra (outcome-based budgeting) để tránh dàn trải, hình thức; ưu tiên các mô hình can thiệp có bằng chứng (evidence-based interventions) và có khả năng nhân rộng.

Thứ sáu, tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Kiểm tra, giám sát và đánh giá là “khâu then chốt” để chống hình thức và nâng chất lượng bền vững. Trước hết, cần cụ thể hóa tiêu chí đánh giá chất lượng theo ba lớp kết quả: (1) nhận thức (hiểu đúng, tin vững); (2) thái độ (tôn trọng kỷ luật, trách nhiệm công dân, tinh thần phụng sự); (3) hành vi (tham gia tích cực, ứng xử chuẩn mực, khả năng phản biện – đấu tranh với sai trái).

Kết quả đánh giá nên được liên thông với đánh giá rèn luyện sinh viên theo quy chế hiện hành, đồng thời, được sử dụng như dữ liệu quản trị để điều chỉnh nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục. Tiếp theo, cần vận hành cơ chế giám sát trên môi trường số một cách giáo dục và nhân văn: theo dõi xu hướng rủi ro (tin giả, nhóm cực đoan, nội dung kích động…), tăng cường truyền thông tích cực, kịp thời đối thoại, giải thích, định hướng; tổ chức bồi dưỡng định kỳ cho đội ngũ phụ trách và mạng lưới cộng tác viên; bảo đảm đến năm 2025 các cơ sở giáo dục triển khai hiệu quả hoạt động tuyên truyền, hướng dẫn và bồi dưỡng đội ngũ theo mục tiêu của đề án chuyên ngành. Cuối cùng, đánh giá cần gắn với trách nhiệm giải trình của tập thể và cá nhân: người đứng đầu, đơn vị phụ trách công tác sinh viên, khoa/bộ môn lý luận chính trị, tổ chức Đoàn – Hội, cố vấn học tập và cả người học; lấy hiệu quả chuyển hóa trong hành vi và môi trường văn hóa học đường làm thước đo, bảo đảm tính đảng, tính khoa học và tính thực tiễn trong toàn bộ chu trình quản trị chất lượng.

5. Kết luận

Thực tiễn cho thấy, công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên đã đạt được những kết quả nhất định, thể hiện ở sự đa dạng hóa hình thức tổ chức và sự lan tỏa của các phong trào rèn luyện; tuy nhiên, vẫn tồn tại những hạn chế nổi bật về tính hấp dẫn, tính thuyết phục và tính chuyển hóa từ nhận thức sang hành vi, nhất là trước tác động của thông tin sai lệch, quan điểm sai trái, thù địch trên môi trường số, cũng như những vấn đề đặt ra từ môi trường văn hóa học đường và cơ chế phối hợp các lực lượng giáo dục.

Giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên Việt Nam chỉ thực sự đạt chất lượng bền vững khi được đặt trong một hệ sinh thái giáo dục toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa giáo dục lý luận với rèn luyện trong thực tiễn, giữa không gian học đường với không gian mạng; qua đó hình thành lớp sinh viên có lý tưởng, bản lĩnh, tri thức và khát vọng cống hiến, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn phát triển mới.

 

Chú thích:
1, 3, 6. Bộ Chính trị (2018). Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.
2. DataReportal (2023). Digital 2023; 2024; 2025: Vietnam. https://datareportal.com/reports/digital.
4, 8, 9. Đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng góp phần nâng cao năng lực nhận diện, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch cho sinh viên trên không gian mạng. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/06/10/day-manh-giao-duc-chinh-tri-tu-tuong-gop-phan-nang-cao-nang-luc-nhan-dien-dau-tranh-phan-bac-quan-diem-sai-trai-thu-dich-cho-sinh-vien-tren-khong-gian-mang.
5. Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”. 7. Nâng cao chất lượng phong trào “Sinh viên 5 tốt”. https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/hoi-sinh-vien-viet-nam/nang-cao-chat-luong-phong-trao-sinh-vien-5-tot%E2%80%9D.

TS. Trần Văn Tiến
ThS. Phạm Đình Kiên
ThS. Lưu Thị Thu Huyền
Học viện Hành chính và Quản trị công

1. Đặt vấn đề Trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, sinh viên là lực lượng trí thức trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là chủ thể tiếp nhận tri thức hiện đại, vừa là nguồn nhân lực chất lượng cao của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đường lối của Đảng nhất quán khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; trong đó, giáo dục chính trị, tư tưởng là bộ phận cấu thành của mục tiêu phát triển con người Việt Nam toàn diện, góp phần bồi dưỡng thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng, đạo đức, lối sống và ý thức công dân cho thế hệ trẻ. Trên nền tảng đó, việc nâng cao chất lượng hoạt đ

Tin khác cùng chủ đề

Phát huy vai trò của mạng xã hội trong xây dựng bản lĩnh chính trị cho sinh viên tại các trường đại học hiện nay
Nâng cao năng lực tổng kết thực tiễn của đội ngũ giảng viên các trường chính trị cấp tỉnh hiện nay
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay
Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ lãnh đạo các trường chính trị cấp tỉnh
Quy định của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy trung tâm chính trị xã, phường, đặc khu
Nâng cao năng lực làm việc trong môi trường quốc tế của giảng viên trường chính trị cấp tỉnh

Gửi bình luận của bạn