Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt), được thành lập ngày 29-5-1946, dưới sự chỉ đạo của Đảng và sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự ra đời của Hội là một sự kiện chính trị quan trọng, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái cùng nhau đấu tranh giữ vững độc lập dân tộc, đối phó với âm mưu chia rẽ của kẻ thù, góp phần tăng thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Bài viết nghiên cứu làm rõ hoàn cảnh ra đời, vai trò và hoạt động của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm.

Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam - Biểu tượng của khối đoàn kết toàn dân tộc
Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam - Biểu tượng của khối đoàn kết toàn dân tộc
1. Đặt vấn đề
Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) được thành lập ngày 29-5-1946. Sau gần 5 năm hoạt động (từ tháng 5-1946 đến tháng 3-1951), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam đã góp phần củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hội Liên Việt ra đời, là một tổ chức Mặt trận thống nhất của nhân dân Việt Nam, một biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc. Những đóng góp và kinh nghiệm tập hợp, đoàn kết dân tộc của Hội Liên Việt  có ý nghĩa sâu sắc đối với công tác Mặt trận cả trong lịch sử và giai đoạn hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết tuân thủ phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Ngoài ra, kết hợp sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: Lịch sử- logic, phân tích - tổng hợp, thu thập dữ liệu, tổng kết kinh nghiệm để làm rõ bối cảnh lịch sử, vai trò, nội dung hoạt động và bài học kinh nghiệm của Hội Liên Việt.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Bối cảnh ra đời Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam
 Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công chưa được bao lâu, đất nước lại ở trong tình thế khó khăn và phức tạp. Ở miền Bắc, từ cuối tháng 8-1945, lấy danh nghĩa quân Đồng minh, quân Trung Hoa dân quốc bắt đầu thực hiện kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”, 20 vạn quân vượt biên giới vào Việt Nam. Từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc, quân Trung Hoa dân quốc có mặt ở khắp nơi trên đất Việt Nam, thực hiện âm mưu “Diệt Cộng cầm Hồ”;  phá tan Việt Minh, lật đổ Chính phủ cách mạng, lập nên chính quyền tay sai phản động. Ở miền Nam, quân Anh kéo vào. Ngày 23-9-1945, quân Anh hỗ trợ, tiếp tay cho quân Pháp đánh chiếm Sài Gòn, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai của thực dân Pháp.
Do chính sách vơ vét, bóc lột của đế quốc, phát xít trong mấy mươi năm thống trị làm cho nền kinh tế nước ta nghèo nàn, lạc hậu và kiệt quệ: nông nghiệp tiêu điều, ruộng đất bị bỏ hoang do hạn hán, lũ lụt; công nghiệp lạc hậu và đình đốn; thương nghiệp bế tắc, hàng hóa khan hiếm; tài chính, ngân khố cạn kiệt, kho bạc trống rỗng, thị trường rối ren. Nạn đói đầu năm 1945 chưa qua khỏi thì nguy cơ của một nạn đói mới đã xuất hiện. Đại đa số người dân mù chữ. Các tệ nạn xã hội có diễn biến phức tạp. Có thể nói, tình hình đất nước lúc đó như “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trong tình hình khó khăn, phức tạp của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm đến vấn đề đoàn kết dân tộc, làm thế nào để xây dựng được khối đại đoàn kết lâu dài, vững chắc và phù hợp với tình hình thực tiễn. Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã điều chỉnh một số nội dung trong chiến lược đại đoàn kết, sao cho rộng rãi hơn nhằm phát huy sức mạnh của toàn dân tham gia vào cuộc kháng chiến. Đó là: Đoàn kết hơn nữa, đoàn kết Trung, Nam, Bắc, đoàn kết các dân tộc, đoàn kết tôn giáo, đoàn kết với cả tầng lớp trên, tranh thủ đến từng cá nhân, dòng họ có thể tranh thủ được; đoàn kết quốc tế nhằm hình thành được một mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, huy động sức lực, của cải của người dân nước Việt con Lạc cháu Hồng vào công cuộc kháng chiến kiến quốc. Trong Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc (ngày 25-11-1945), khi vạch ra những biện pháp toàn diện, cơ bản về tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự, ngoại giao, Chỉ thị nêu rõ các biện pháp này đều có chung một tư tưởng cốt lõi là: Tăng cường khối đoàn kết toàn dân, chống thực dân Pháp xâm lược và xây dựng đất nước. Theo đó, “chiến thuật của ta lúc này là lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr. 26).
Để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở rộng và phát triển Mặt trận Việt Minh nhằm gánh vác những nhiệm vụ mới của đất nước. Đây là một chủ trương lớn, táo bạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, khi mở rộng Mặt trận, phải giữ vững những nguyên tắc cốt lõi là Đảng Cộng sản lãnh đạo Mặt trận, Mặt trận lấy liên minh công nông làm nền tảng và không mâu thuẫn với tính nhất quán trong tư tưởng và hành động lâu dài của Hồ Chí Minh và Đảng về tập hợp toàn dân giành mục tiêu cơ bản của cách mạng. Mặt khác, việc mở rộng Mặt trận lúc này còn tránh nguy cơ nảy sinh sự bất đồng về tư tưởng chính trị giữa các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội, làm thất bại âm mưu thâm độc của kẻ thù chia rẽ Việt Minh với nhân dân.
Với chủ trương mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, nhiều tổ chức yêu nước của các tầng lớp, giai cấp, tôn giáo, dân tộc được kết nạp vào Mặt trận Việt Minh, như: Việt Nam Công giáo Cứu quốc hội, Việt Nam hướng đạo Cứu quốc đoàn, Đảng Dân chủ Việt Nam… Mặt trận dân tộc thống nhất đã thu hút thêm những tầng lớp tư sản, địa chủ yêu nước, tiến bộ, những nhân sĩ, trí thức. Làm cho uy tín của Mặt trận Việt Minh - hình ảnh của khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được nâng cao trong đời sống chính trị của đất nước.
Tuy nhiên, thành phần xã hội của Mặt trận Việt Minh vẫn còn hạn hẹp, phần lớn là công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị và một phần rất nhỏ tư sản và địa chủ yêu nước. Trong khi đó, kẻ thù đang tìm mọi cách chia rẽ các thành viên trong Mặt trận, đối lập Mặt trận với nhân dân bằng cách khuếch đại những khiếm khuyết mà Việt Minh mắc phải sau khi nắm chính quyền. Ngày 17-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kịp thời viết thư Gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng, trong đó phê phán những sai lầm và tệ mới nảy sinh khi Đảng và Việt Minh lên cầm quyền. Sau đó, Người đã thành lập Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ để xử lý và ngăn ngừa tệ vi phạm quyền dân chủ của công dân. Tình hình này đã được đồng chí Trường Chinh nêu rõ trong bài viết đăng trên Báo Sự thật, số 63 (11-1946): “Những phần tử ùa theo Việt Minh hay ủng hộ Việt Minh trong giờ phút quyết liệt không phải đều hóa thành chiến sĩ Việt Minh hết. Một phần họ tiếp tục tranh đấu trong hàng ngũ Việt Minh, nhưng cũng có một phần lảng xa Việt Minh vì lẽ này hay lẽ khác. Mà những người lảng xa ấy không phải không yêu nước, cũng không phải họ không có năng lực” (Trường Chinh, 2007, tr. 163). Đồng chí cũng chỉ rõ là còn một bộ phận nữa còn băn khoăn, do dự là những người thuộc tầng lớp trí thức, các quan lại, các tổ chức phi vô sản, rồi những người có thái độ bàng quan... Quá khứ của họ khiến họ “gờm” Việt Minh (Trường Chinh, 2007, tr. 163). Vấn đề đặt ra là phải làm thế nào cho họ hiểu Việt Minh là lực lượng trung kiên của cách mạng, Mặt trận dân tộc thống nhất là một mặt trận rộng rãi tập hợp mọi người đấu tranh cho sự nghiệp chống thù trong, giặc ngoài và bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Trong tình hình ấy, cần phải có một tổ chức mới, thu hút đông đảo hơn nữa quần chúng nhân dân tham gia.
Theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một Ban vận động thành lập Mặt trận mới được hình thành, gồm có đầy đủ đại diện các tổ chức chính trị, các đảng phái, tôn giáo, dân tộc. Đại biểu Việt Minh có Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Lương Bằng, Võ Nguyên Giáp, Dương Đức Hiền, Cù Huy Cận… Các đại biểu ngoài Việt Minh có nhân sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng, Cựu Thượng Thư Bộ hình Bùi Bằng Đoàn, nhà tư sản theo đạo Thiên chúa Ngô Tử Hạ; trí thức yêu nước có luật sư Phan Anh, Ngô Văn Luyện (Nguyễn Văn Luyện), Nguyễn Văn Tố; đại biểu Việt Nam quốc dân Đảng có Chu Bá Phượng, Nguyễn Tường Tam, Nguyễn Tường Long, Vũ Hồng Khanh.
Sau một thời gian vận động, ngày 29-5-1946, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam được thành lập (gọi tắt là Hội Liên Việt), do nhân sĩ yêu nước Huỳnh Thúc Kháng làm Hội trưởng, đồng chí Tôn Đức Thắng là Phó Hội trưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử làm Hội trưởng danh dự.
Dưới sự chỉ đạo của Đảng và sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Hình thức Mặt trận dân tộc chống Pháp lúc này phải là Hội Liên Việt, Việt Minh là bộ phận trụ cột trong Liên Việt và Hội là đội tiên phong, bộ tham mưu lãnh đạo cả Mặt trận toàn dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr. 27-28). Ngày 11-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị ra Nghị quyết về việc Tuyên bố tự giải tán Đảng; thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật; thành lập Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương.
2.2. Vai trò và hoạt động của Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam
Sự ra đời của Hội Liên Việt là một sự kiện chính trị quan trọng, một niềm vui của dân tộc, là sự khai hoa, kết trái của Mặt trận dân tộc thống nhất. Bằng những quyết định và hành động khôn khéo, mềm dẻo, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã đập tan được thủ đoạn chia rẽ dân tộc, chia rẽ giai cấp của kẻ thù, mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc. Việc thành lập Hội Liên Việt là sự đáp trả trước âm mưu, hành động phản động của thực dân Pháp đang tìm cách chia rẽ đồng bào miền Nam và đồng bào miền Bắc, đồng bào có đạo và không theo đạo, người giàu và người nghèo, người Kinh và người Thượng. Việc thành lập Hội này cũng là một trả lời đích đáng cho các hạng Việt gian phản động cam tâm làm tay sai cho ngoại quốc chống lại quyền lợi của toàn dân và toan dựa vào sức người hòng lập “chính quyền địa phương tự trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr.  71).
Nhân dịp này, Tổng Bí thư Trường Chinh viết bài Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời, khẳng định đây là “một hiện tượng chính trị quan trọng, một tin mừng của dân tộc Việt Nam” và kêu gọi “tất cả mọi người Việt Nam phải là một hội viên dũng cảm của Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam” (Trường Chinh, 2007, tr. 132-134).
Cương lĩnh của Hội Liên Việt nêu rõ: Hội có mục đích “đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào yêu nước vô đảng, vô phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc, để làm cho nước Việt Nam: độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường!” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr. 69). Chương trình của Hội gồm các phần nội chính, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội đều hướng tập trung vào mục đích trên. Hai điểm mới trong Chương trình của Hội là: “Trước hết, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam không phải là một mặt trận riêng của các đảng phái yêu nước, chẳng hạn như Việt Minh. Nó là một khối kết hợp các đảng, các phái và các tầng lớp nhân dân vô đảng vô phái cùng chung một mục đích vì nước. Đó là mặt trận thống nhất của toàn dân. Sau nữa, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, không những chủ trương làm cho dân tộc Việt Nam được tự do giải phóng, mà còn tranh đấu cho lãnh thổ Việt Nam được toàn vẹn, nước Việt Nam mau chiếm được địa vị phú cường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, tr. 69-70). Điểm này hoàn toàn thống nhất với chủ trương chính sách của Đảng là thống nhất quốc gia, đoàn kết dân tộc, động viên cổ vũ toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược.
Sau khi Hội Liên Việt được thành lập, thì Hội Liên Việt các cấp cũng từng bước được hình thành. Để tuyên truyền vận động các giới và nhân dân, ngoài tờ báo Cứu quốc, cơ quan ngôn luận của Tổng bộ Việt Minh, Hội Liên Việt ra tờ báo Toàn dân kháng chiến. Ở mỗi khu cũng có tờ báo riêng của Liên Việt khu.
Để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho các giới thành lập tổ chức của mình. Ngày 20-7-1946, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được thành lập, do đồng chí Trần Danh Tuyên làm Tổng Thư ký. Giới trí thức đã tổ chức Hội nghị ở Hà Nội, gồm 23 vị là những thương gia, kỹ nghệ, giáo sư, bác sĩ, dược sĩ, viên chức trong chế độ cũ, thành lập Đảng Xã hội vào tháng 7-1946. Ngày 20-10-1946, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam được thành lập. Các tổ chức trên đều tự nguyện tham gia Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam. Bằng những quyết định và hành động khôn khéo, mềm dẻo, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương đã đập tan thủ đoạn chia rẽ dân tộc, chia rẽ giai cấp của kẻ thù, mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc trong Mặt trận.
Hội Liên Việt tích cực tuyên truyền vận động các giới tham gia, ủng hộ kháng chiến. Hội đã vận động hàng vạn đồng bào tham gia vào phong trào Mùa đông binh sĩ do Hội tổ chức năm 1946. Đã có hàng nghìn chiếc áo chấn thủ, áo len được các bà phước và các phật tử may, đan thâu đêm ủng hộ cho bộ đội trên chiến trường và nhiều thương binh đang điều trị. Hội tích cực vận động thanh niên, trí thức, công chức, kỳ hào, quan lại, binh sĩ… phản đối chính sách phản động của thực dân Pháp định lập Chính phủ bù nhìn và âm mưu “dùng người Việt trị người Việt” của chính quyền thực dân. Vận động nhân dân đấu tranh chống Pháp và hội tề bằng nhiều hình thức: bí mật tản cư, lãn công, trốn lính, trốn phu, biểu tình, đòi giảm thuế… Hội động viên toàn dân phát triển chiến tranh du kích, nhất là trong vùng địch, giúp đỡ các chiến sĩ, gây phong trào khuyến khích thanh niên tòng quân, mở rộng công tác địch vận; vận động nhân dân cải cách ruộng đất, thực hiện giảm tô 25% để cải thiện đời sống; mở rộng phong trào thi đua ái quốc… Những hoạt động của Hội Liên Việt đã góp phần củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào kháng chiến.
Sau thắng lợi của các chiến dịch Việt Bắc năm 1947, chiến dịch sông Lô năm 1949, đặc biệt là chiến dịch Biên giới năm 1950, cuộc kháng chiến chuyển mạnh sang thế tiến công địch về quân sự. Về kinh tế, bước đầu đã xây dựng được một số cơ sở như ngân hàng, mậu dịch quốc doanh, đẩy mạnh phát triển kinh tế tập thể trong nông nghiệp và thủ công nghiệp, chuẩn bị phát động quần chúng thực hiện giảm tô, giảm tức. Văn hóa - xã hội đã có những bước tiến rõ rệt, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được củng cố, mở rộng.
 Sau một thời gian hoạt động và phát triển, trong quan hệ công tác của hai tổ chức Việt Minh và Hội Liên Việt gặp những khó khăn nhất định, thiếu cán bộ chỉ đạo trực tiếp của Đảng. Nhằm củng cố và mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang bước vào thời kỳ quyết liệt, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thống nhất hai tổ chức này. Đảng nêu rõ: “đứng về mặt chính trị ta thấy cần phải thống nhất giữa hai Mặt trận, vì để thực hiện sự đại đoàn kết toàn dân làm cho kháng chiến thắng lợi… đó là chủ trương linh động duy nhất đúng để thống nhất thực sự Mặt trận… để tránh mọi phiền phức công tác giữa hai bên” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr. 263-264). Việc hợp nhất hai tổ chức Việt Minh và Hội Liên Việt được chuẩn bị kỹ lưỡng. Đảng chỉ đạo việc lấy ý kiến của các cơ quan, đoàn thể, quân, dân, chính Đảng, các vị nhân sĩ, trí thức, các đồng chí phụ trách các bộ, ngành… Sau hơn hai năm kiên trì trưng cầu ý kiến, khi tình hình đã chín muồi, Trung ương chỉ đạo tiến hành hợp nhất.
 Tháng 3-1951, tại huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang diễn ra Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thành Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Mặt trận Liên - Việt). Thành viên của Mặt trận Liên - Việt gồm: Đảng Lao động Việt Nam, các đoàn thể, tôn giáo, các đảng phái yêu nước, đoàn kết đấu tranh cho mục đích chung là đánh bại thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc đến thắng lợi. Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự. Đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên - Việt. Phát biểu tại buổi lễ khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong Đại hội này, chúng ta có đại biểu đủ các tầng lớp, các tôn giáo, các dân tộc, già có, trẻ có, nam có, nữ có, thật là một gia đình tương thân tương ái… Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa, kết quả và gốc rễ nó đang ăn sâu, lan rộng khắp toàn dân và nó có một tương lai “trường xuân bất lão” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 47-48). Đây là thắng lợi to lớn trong xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong những năm tháng khó khăn, gian khổ, cùng với Mặt trận Việt Minh, Hội Liên Việt thực sự là tổ chức tập hợp, đoàn kết mọi giai cấp, tầng lớp, cá nhân phấn đấu vì lợi ích chung của dân tộc. Hội Liên Việt đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và góp phần xứng đáng đưa sự nghiệp kháng chiến đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lịch sử trong những năm qua đã chứng tỏ lực lượng đoàn kết của nhân dân ta là vô địch và Mặt trận dân tộc thống nhất đã nhiều lần thắng lợi. Mặt trận Việt Minh đã giúp Cách mạng Tháng Tám thành công. Mặt trận thống nhất Việt Minh-Liên Việt đã giúp kháng chiến thắng lợi” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 131).
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới, tháng 9-1955, tại Hà Nội, Đại hội Mặt trận Liên - Việt được tiến hành. Đại hội nhất trí thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và thông qua Cương lĩnh, Điều lệ mới của Mặt trận. Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Mặt trận danh dự. Phát biểu tại buổi lễ bế mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chúng ta có thể tin chắc rằng: Với sự cố gắng của mọi người và sự ủng hộ của toàn dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ làm tròn nhiệm vụ vẻ vang là giúp xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 131).
Mặt trận là điều kiện tiên quyết giúp cho nhân dân chuyển hóa đại đoàn kết toàn dân tộc từ sức mạnh tinh thần thành sức mạnh vật chất tự giác và có tổ chức; là vũ khí chính trị sắc bén để phát huy sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến đấu giành độc lập, tự do cho dân tộc và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận càng rộng rãi, càng thu hút quảng đại quần chúng tham gia, thì thắng lợi càng lớn.
Để Mặt trận thực sự tiêu biểu cho sự liên minh của các giai tầng trong xã hội, thì phải hoạt động theo đúng nguyên tắc: Hiệp thương, dân chủ, đoàn kết, thống nhất. Mặt trận phải có một cương lĩnh cụ thể, có điều lệ và có kỷ luật rõ ràng. Để làm tròn nhiệm vụ, Mặt trận phải được củng cố, phát triển theo hai hướng: phải tuyên truyền vận động các giai cấp, tầng lớp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo tham gia vào Mặt trận; phải xây dựng vững chắc các tổ chức chính của Mặt trận như: Công đoàn, nông dân, phụ nữ, thanh niên.
Đảng lãnh đạo Mặt trận và các tổ chức thành viên, song Đảng cũng là một thành viên trong Mặt trận. Cho nên, sau khi mọi chủ trương của Đảng đưa ra, được Mặt trận tán thành, thì Đảng cũng như mọi tổ chức khác trong Mặt trận phải thi hành công tác ấy. Việc Đảng đứng trong Mặt trận, không những không làm cho Mặt trận lu mờ, mà còn đề cao vai trò chính trị của Mặt trận, làm cho khối đoàn kết toàn dân tộc lớn mạnh thêm, bền vững thêm; đồng thời, cũng không làm giảm uy tín của Đảng, mà làm cho vai trò lãnh đạo của Đảng được đề cao.
Cán bộ phải có thái độ hòa nhã, khiêm tốn, cùng bàn bạc giúp đỡ nhân dân trong mọi công việc; phải đi sâu tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc của nhân dân, tôn trọng ý kiến của nhân dân, học những cái hay của dân; phải kiên trì, nhẫn nại trong việc tuyên truyền, giải thích, vận động nhân dân; phải thật thà tự phê bình và phê bình để tiến bộ. Có như vậy mới được dân tin, dân phục, dân yêu, mới hoàn thành được nhiệm vụ là củng cố và phát triển khối đại đoàn kết và động viên toàn dân tham gia xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

3.  Kết luận
Thông qua những chủ trương, biện pháp sắc sảo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương, Hội Liên Việt đã tập hợp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, đảng phái… kết thành một khối thống nhất, cùng nhau hành động để đánh Pháp cứu giống nòi khỏi ách xâm lược. Không có một tổ chức chặt chẽ, thống nhất, thì không có được lực lượng chính trị hùng hậu để từ đó xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.
 
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 8 (1945-1947). Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2001). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 9 (1948). Nxb Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh. (2011a). Toàn tập: Tập 7 (1951-1952). Nxb Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh. (2011b). Toàn tập: Tập 10 (1955-1957). Nxb Chính trị quốc gia
Trường Chinh. (2007). Những bài báo chọn lọc. Nxb Lý luận chính trị.
PGS, TS NGUYỄN THỊ KIM DUNG
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email:dung2402.vhcm@gmail.com
1. Đặt vấn đềĐể mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng thêm sức mạnh cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Hội Liên Việt) được thành lập ngày 29-5-1946. Sau gần 5 năm hoạt động (từ tháng 5-1946 đến tháng 3-1951), Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam đã góp phần củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hội Liên Việt ra đời, là một tổ chức Mặt trận thống nhất của nhân dân Việt Nam, một biểu tượng của khối đại đoàn kết dân tộc. Những đóng góp và kinh nghiệm tập hợp, đoàn kết d

Tin khác cùng chủ đề

Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý kinh tế và bài học quản trị cho doanh nghiệp hiện nay
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính quyền cấp xã và sự vận dụng của Đảng trong xây dựng chính quyền cấp cơ sở hiện nay
Học tập và làm theo Sáu điều Bác Hồ dạy: nền tảng xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh trong kỷ nguyên mới
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chính quyền địa phương hiện nay
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương và tự học trong nâng cao năng lực số của giảng viên lý luận chính trị
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong giai đoạn hiện nay

Gửi bình luận của bạn