Trong bối cảnh cả nước thực hiện chuyển đổi số, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó là nền tảng chính trị - pháp lý của mô hình xây dựng nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, định hướng những vấn đề thực tiễn của thời kỳ chuyển đổi số. Định hướng này tiếp tục được khẳng định và phát triển trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia trên nền tảng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Nguyên tắc "của dân, do dân, vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong xây dựng chính quyền thời kỳ chuyển đổi số hiện nay
Nguyên tắc "của dân, do dân, vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong xây dựng chính quyền thời kỳ chuyển đổi số hiện nay

 

Nguyên tắc "của dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong chuyển đổi số hiện nay

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, nguyên tắc "của dân" giữ vị trí trung tâm. Quyền lực nhà nước phải xuất phát từ Nhân dân và thuộc về Nhân dân. Người khẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân"(1) và "Dân chủ là của quý báu nhất của Nhân dân"(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền lực nhà nước chỉ có ý nghĩa khi do Nhân dân trao, được Nhân dân kiểm soát và phục vụ lợi ích của Nhân dân. Người nhấn mạnh, Nhân dân không chỉ là chủ thể trừu tượng mà giữ vai trò thực tế trong thiết lập quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện qua quyền bầu cử, ứng cử: "Hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều có quyền đi bầu cử"(3). Người coi quyền tham gia và quyền kiểm tra của Nhân dân là cơ chế căn bản để bảo đảm bản chất dân chủ của Nhà nước: "Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ. Chính phủ thì việc to việc nhỏ đều nhằm mục đích phục vụ lợi ích của Nhân dân"(4).

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà nước "của dân" gắn liền với minh bạch và trách nhiệm giải trình, bởi khi Nhân dân là chủ, thì mọi hoạt động của Nhà nước phải đặt dưới sự giám sát của Nhân dân. Người kiên quyết phê phán căn bệnh quan liêu, xa dân, coi đó là sự xa rời bản chất "của dân": "Những căn bệnh hủ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo… đều bắt nguồn từ chứng bệnh xa dân, khinh dân"(5). Như vậy, "của dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở ba nội dung cốt lõi: Khẳng định chủ quyền tuyệt đối của Nhân dân; bảo đảm cơ chế để người dân tham gia quyết định và kiểm soát quyền lực; yêu cầu minh bạch và chống mọi biểu hiện lạm quyền.

Hiện nay, ở Việt Nam, chuyển đổi số đang tạo ra điều kiện để thực hiện đầy đủ hơn nguyên tắc "của dân" theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị "về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư" và Nghị quyết số 57NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị "về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia" đều xác định rõ mục tiêu: Lấy người dân làm trung tâm, nâng cao quyền làm chủ thông qua công nghệ số. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: "Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… bảo đảm và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân"(6). Thực hiện đúng nguyên tắc "của dân" theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng chính quyền thời kỳ chuyển đổi số cần quán triệt các yêu cầu sau:

Thứ nhất, chuyển đổi số phải gắn với việc mở rộng quyền được biết của Nhân dân. Các cơ quan nhà nước phải công khai quy hoạch, ngân sách, thủ tục, tiến độ giải quyết hồ sơ trên môi trường số. Hệ thống dữ liệu mở và các cơ sở dữ liệu quốc gia phải hướng tới giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh và minh bạch hơn.

Thứ hai, chuyển đổi số phải hướng tới mở rộng không gian để dân được bàn và tham gia vào các chính sách phát triển. Các dự thảo luật, nghị định được đưa lên cổng thông tin điện tử góp ý trực tuyến; phản ánh, kiến nghị của Nhân dân được tiếp nhận qua ứng dụng số. Văn kiện Đại hội XIII nhấn mạnh "đổi mới phương thức vận hành của Nhà nước theo hướng hoàn thiện thể chế, phát huy dân chủ, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân"(7).

Thứ ba, chuyển đổi số phải hướng tới tăng cường khả năng để dân kiểm tra các hoạt động của bộ máy nhà nước. Hệ thống phản ánh hiện trường, cơ chế đánh giá dịch vụ công trực tuyến và lưu vết hồ sơ điện tử giúp Nhân dân giám sát minh bạch hơn, hiệu quả hơn.

Thứ tư, chuyển đổi số phải hướng tới tạo nền tảng để mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân theo hướng bình đẳng. Khi dịch vụ công trực tuyến được triển khai trên phạm vi rộng, mọi công dân đều có khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ trên cơ sở công bằng; đây là sự song song giữa yêu cầu "của dân" và yêu cầu hiện đại hóa quản trị quốc gia.

Nguyên tắc "do dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự hiện thực hóa trong chuyển đổi số hiện nay

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, nguyên tắc "do dân" khẳng định Nhà nước do Nhân dân lập nên, dựa vào dân mà hoạt động và chịu sự giám sát của dân. Người nhấn mạnh: "Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà"(8). Tư tưởng này cho thấy rằng bộ máy nhà nước chỉ tồn tại hợp pháp khi được Nhân dân trao quyền thông qua các hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi Nhân dân là lực lượng quyết định trong mọi quá trình quản lý nhà nước. Người viết: "Dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong"(9), nhấn mạnh rằng mọi công việc của Đảng, Nhà nước chỉ thành công khi có sự tham gia chủ động của Nhân dân. Đây chính là nền tảng của Nhà nước "do dân": Quyền lực được hình thành từ dân, chính sách được xây dựng dựa trên ý chí và nguyện vọng của dân. Cùng với đó, Người yêu cầu Nhà nước phải dựa vào dân để quản lý, phải lắng nghe dân, hỏi ý dân trước khi ban hành chính sách. Người chỉ rõ: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đầy tớ trung thành của nhân dân. Chính phủ chỉ có một mục đích là: Hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân"(10). Điều này đòi hỏi Nhà nước phải vận hành trên cơ sở Nhân dân ủy quyền và phải thể hiện sự ủy quyền đó bằng hiệu quả phục vụ.

Một nội dung quan trọng khác trong tư tưởng "do dân" là yêu cầu Nhân dân tham gia xây dựng bộ máy nhà nước, không chỉ qua bầu cử mà còn qua giám sát cán bộ, đánh giá đạo đức công vụ, phát hiện sai phạm. Các biểu hiện "vác mặt làm quan cách mạng"(11), hủ hóa, xa dân đều bị Người phê phán gay gắt và coi đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái quyền lực, đi ngược lại bản chất "do dân" của nhà nước cách mạng. Như vậy, nguyên tắc "do dân" mang ba nội hàm quan trọng: Nhà nước do Nhân dân tổ chức và lựa chọn; hoạt động của Nhà nước phải dựa vào dân, lắng nghe dân; Nhân dân tham gia tích cực vào vận hành, giám sát và kiểm soát quyền lực nhà nước.

Những tư tưởng này tiếp tục được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII với yêu cầu "cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới"(12). Đại hội XIV tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu "phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực…". Đây là cơ sở chính trị quan trọng để hiện thực hóa nguyên tắc "do dân" trong điều kiện chuyển đổi số và quản trị hiện đại. Điều này cho thấy nguyên tắc "của dân" được đặt trong yêu cầu xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Trong bối cảnh chuyển đổi số, nguyên tắc "do dân" được mở rộng theo hướng hiện đại hóa phương thức tham gia của Nhân dân vào quản trị nhà nước. Theo đó cần quán triệt các yêu cầu:

Thứ nhất, chuyển đổi số phải hướng tới củng cố cơ chế Nhân dân tham gia vận hành Nhà nước. Nhân dân tham gia đánh giá chất lượng phục vụ của cán bộ, phản ánh những khó khăn về hồ sơ, quy trình.

Thứ hai, chuyển đổi số phải mở rộng cơ chế để Nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng và hoàn thiện chính sách thông qua phân tích dữ liệu, phản hồi trên các nền tảng số, khảo sát số. Nghị quyết số 76/NQ-CP ngày 15/7/2021 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021-2030, xác định: Phải "tăng cường sự tham gia của Nhân dân trong giám sát công vụ thông qua nền tảng số". Điều này cho thấy sự tiếp nối trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực nhà nước bằng sức mạnh của Nhân dân: "Việc gì cũng phải hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc, và giải thích cho dân chúng"(13).

Thứ ba, sự thành công của chuyển đổi số phụ thuộc vào mức độ người dân chấp nhận, sử dụng và tương tác với dịch vụ công trực tuyến. Đây chính là hình thức hiện đại của tư tưởng "do dân mà thành": hạ tầng số, dữ liệu số và chính phủ số chỉ hiệu quả khi có sự tham gia chủ động của người dân - những người vừa là chủ thể dữ liệu vừa là người đánh giá chất lượng dịch vụ.

Như vậy, chuyển đổi số không chỉ là một tiến trình kỹ thuật, mà còn là một hình thức vận động mới của dân chủ, nơi Nhân dân tham gia mạnh mẽ hơn vào việc xây dựng, vận hành và giám sát Nhà nước, đúng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây là bước phát triển tất yếu của nguyên tắc "do dân", bảo đảm cho mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vừa ổn định về bản chất, vừa năng động trong điều kiện mới.

Nguyên tắc "vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự cụ thể hóa trong quá trình chuyển đổi số phục vụ Nhân dân

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và quản trị quốc gia, nguyên tắc "vì dân" là biểu hiện tập trung nhất của bản chất Nhân dân của nhà nước cách mạng. Người đã khẳng định rõ phương châm hành động của Nhà nước: "Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh"(14). Tư tưởng này xác lập tiêu chuẩn đạo đức - chính trị cho đội ngũ cán bộ, buộc họ phải toàn tâm, toàn ý phục vụ Nhân dân. Theo Người, cán bộ nhà nước dù giữ cương vị nào cũng phải "thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư"(15), bởi phẩm chất đạo đức của cán bộ gắn trực tiếp với niềm tin của Nhân dân và uy tín của Nhà nước. Điểm nổi bật khác trong tư tưởng "vì dân" của Hồ Chí Minh là yêu cầu tôn trọng Nhân dân và gắn bó với Nhân dân. Người kiên quyết phê phán các hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch, coi đó là biểu hiện của sự "xa rời dân", làm tổn hại phẩm chất "công bộc của dân" của người cán bộ. Người yêu cầu các biểu hiện hủ hóa, tư túi, cục bộ, kiêu ngạo đều bắt nguồn từ việc "khinh dân, xa dân", và do đó "dân không yêu, dân không tin" thì "việc gì cũng không làm được".

Nguyên tắc "vì dân" cũng thể hiện qua yêu cầu xây dựng một hệ thống pháp luật dân chủ, trong đó "Phép luật là phép luật của nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số nhân dân"(16). Nhà nước phải quản lý xã hội bằng pháp luật nhưng pháp luật ấy phải phản ánh lợi ích và nguyện vọng của Nhân dân, phù hợp với mục tiêu phụng sự Nhân dân. Đây chính là sự kết hợp giữa tính pháp quyền và tính Nhân dân trong tư tưởng của Người. Như vậy, nguyên tắc "vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua: Coi lợi ích Nhân dân là mục tiêu tối thượng của nhà nước; yêu cầu cán bộ phải tận tụy phục vụ Nhân dân với phẩm chất đạo đức trong sạch; xây dựng hệ thống pháp luật để bảo vệ đa số Nhân dân; phê phán mạnh mẽ mọi hiện tượng gây tổn hại đến đời sống và niềm tin của Nhân dân.

Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, nguyên tắc "vì dân" được cụ thể hóa bằng những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, giảm chi phí xã hội, mở rộng cơ hội tiếp cận dịch vụ công và thúc đẩy công bằng trong thụ hưởng chính sách. Chiến lược phát triển Chính phủ số khẳng định yêu cầu xây dựng nền hành chính "liêm chính, hành động, phục vụ". Nghị quyết Đại hội XIV xác định rõ: "Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy… hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu"(17). Đây là sự cụ thể hóa sâu sắc nguyên tắc "vì dân" trong giai đoạn phát triển mới. Muốn vậy cần thực hiện tốt các yêu cầu:

Thứ nhất, chuyển đổi số phải hướng tới nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân thông qua dịch vụ công trực tuyến, cơ chế "một cửa, số hóa" và các hệ thống quản lý dựa trên dữ liệu. Việc số hóa thủ tục hành chính giúp giảm thời gian, chi phí và hạn chế tiếp xúc trực tiếp - một trong những nguyên nhân gây nhũng nhiễu.

Thứ hai, chuyển đổi số phải hướng tới góp phần tăng tính minh bạch và giảm tham nhũng, tạo điều kiện để người dân được bảo vệ khỏi các hành vi tiêu cực. Hệ thống lưu vết điện tử, công khai tiến độ hồ sơ và minh bạch các quy trình nội bộ giúp hạn chế khả năng can thiệp tùy tiện của cán bộ. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và khóa XIII đều nhấn mạnh yêu cầu "xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, không tham nhũng", và chuyển đổi số là một công cụ hữu hiệu để thực hiện điều này.

Thứ ba, chuyển đổi số phải hướng tới mở rộng cơ hội thụ hưởng công bằng đối với dịch vụ công cho mọi nhóm dân cư. Văn kiện Đại hội XIII đề cao yêu cầu "không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển". Khi dịch vụ công trực tuyến được triển khai rộng khắp, người dân ở vùng sâu, vùng xa, người khuyết tật hay người lớn tuổi được hỗ trợ tiếp cận thông tin và dịch vụ một cách bình đẳng hơn. Đây là sự mở rộng hiện đại của tư tưởng "vì dân" - chăm lo mọi tầng lớp Nhân dân.

Thứ tư, chuyển đổi số tạo điều kiện để phúc lợi xã hội được quản lý và cung cấp hiệu quả hơn. Dữ liệu số liên thông giữa các ngành như y tế, bảo hiểm, lao động - xã hội cho phép Nhà nước nhận diện chính xác đối tượng thụ hưởng, giảm trùng lặp, thất thoát và nâng cao hiệu quả chi tiêu công. Cùng với đó, chuyển đổi số thúc đẩy văn hóa, đạo đức công vụ phục vụ Nhân dân, đòi hỏi cán bộ phải có kỹ năng số, đạo đức số và thái độ tôn trọng Nhân dân trong môi trường trực tuyến.

***

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước "của dân, do dân, vì dân" tiếp tục giữ vai trò định hướng nền tảng cho quá trình hiện đại hóa quản trị quốc gia. Việc gắn kết các giá trị đó với chuyển đổi số không chỉ làm sâu sắc thêm bản chất Nhân dân của Nhà nước, mà còn mở ra những phương thức mới để bảo đảm quyền làm chủ và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Qua đó, tư tưởng của Người chứng tỏ sức sống bền vững và khả năng thích ứng mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới./.

-------------------------------------------------------------

Ghi chú:

(1) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.453.

(2) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.457.

(3) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.153.

(4) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.90.

(5) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.368.

(6) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm?utm_source

(7) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính tị quốc gia Sự thật, tập I, tr.100.

(8) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.153.

(9) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.280.

(10) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, Lời giới thiệu.

(11) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.116.

(12) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, tập I, tr.191.

(13) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.335.

(14) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, Lời giới thiệu XXVII.

(15) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, Lời giới thiệu XIV.

(16) Hồ Chí Minh, toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 2011, tr.259.

(17) https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-119260206221643667.htm?utm_source

Thượng tá, TS Vũ Hồng Hà - Học viện Hậu cần, Bộ Quốc phòng

  Nguyên tắc "của dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng trong chuyển đổi số hiện nay Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, nguyên tắc "của dân" giữ vị trí trung tâm. Quyền lực nhà nước phải xuất phát từ Nhân dân và thuộc về Nhân dân. Người khẳng định: "Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân"(1) và "Dân chủ là của quý báu nhất của Nhân dân"(2). Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền lực nhà nước chỉ có ý nghĩa khi do Nhân dân trao, được Nhân dân kiểm soát và phục vụ lợi ích của Nhân dân. Người nhấn mạnh, Nhân dân không chỉ là chủ thể trừu tượng mà giữ vai trò thực tế trong thiết lập quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện qua quyền bầu cử, ứng cử:

Tin khác cùng chủ đề

Nghệ thuật thu hút, trọng dụng nhân tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh và định hướng vận dụng trong giai đoạn hiện nay
Học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt theo tư tưởng Hồ Chí Minh - ý nghĩa đối với thanh niên Quân đội hiện nay
Tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng giải phóng dân tộc khơi nguồn thắng lợi Cách mạng Tháng Tám và sự ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Xây dựng Đảng về đạo đức trong Công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ đảng viên của Đảng hiện nay
Hệ giá trị chân - thiện - mỹ trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Gửi bình luận của bạn