Chủ tịch Hồ Chí Minh - lãnh tụ vĩ đại của cách mạng Việt Nam, luôn hết lòng vì dân, vì nước. Trong quá trình cùng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng, Người đã nhận rõ vai trò và vị trí của giai cấp nông dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Từ nhận thức đó, Người đã khơi dậy được sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân, biến sức mạnh ấy trở thành động lực to lớn của cách mạng. Bài viết làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân Việt Nam và sự vận dụng sáng tạo của Đảng trong việc phát huy vai trò của nông dân trong phát triển kinh tế nông nghiệp thời kì đổi mới.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân và sự vận dụng của Đảng thời kỳ đổi mới
Quan điểm của Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân và sự vận dụng của Đảng thời kỳ đổi mới

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống khiêm tốn, giản dị. Người rất trân trọng, gần gũi và đồng cảm sâu sắc với nhân dân. Nhà sử học người Pháp Alain Ruscio-trong cuộc trả lời phỏng vấn với báo Le Courrier du Vietnam, ngày 12-5-2020 đã nói: “Bác Hồ là người chân thành, khiêm tốn, giản dị, không màng danh lợi. Ngay cả khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Bác vẫn không từ bỏ phong cách sống giản dị đó. Với nhân cách cao quý ấy, Bác vẫn luôn là điển hình vẹn nguyên giá trị thời đại”1.

Trong các giai cấp và tầng lớp nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giai cấp nông dân, lực lượng đông đảo nhất trong xã hội. Trong chế độ thực dân- phong kiến, giai cấp nông dân phải chịu cảnh áp bức, bóc lột nặng nề nhất. Chính vì vậy, đây là giai cấp có tinh thần đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến vô cùng mạnh mẽ. Đây cũng chính là cơ sở quan trọng để Người xây dựng Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, khẳng định rõ ràng rằng nông dân là một lực lượng vô cùng quan trọng và không thể thiếu của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định cách mạng Việt Nam phải theo đường lối cách mạng vô sản, thực hiện giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp để đi tới xã hội cộng sản. Trong cuộc đấu tranh cách mạng đó phải: “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo. Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo. Mở mang công nghiệp và nông nghiệp”2. Người cho rằng “Nền tảng của vấn đề dân tộc là vấn đề nông dân, vì nông dân là tối đại đa số trong dân tộc. Nền tảng của cách mạng dân chủ cũng là nông dân, vì nông dân là lực lượng cách mạng đông nhất chống phong kiến, chống đế quốc”3. Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là người “đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam đã nêu được quan niệm mới mẻ, đúng đắn về nông dân”4. Người đánh giá rất cao vai trò và tinh thần cách mạng của nông dân trong sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc, bởi nếu được tổ chức tốt, nông dân sẽ trở thành một lực lượng cách mạng có sức mạnh rất lớn, góp phần quan trọng đưa cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã ghi một mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Kể từ đây, chế độ áp bức, bóc lột của chủ nghĩa thực dân, phong kiến hoàn toàn bị xóa bỏ. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành chủ nhân thực sự của đất nước.

Sau khi giành được chính quyền, một trong những việc làm đầu tiên của Hồ Chí Minh trên cương vị Chủ tịch Chính phủ là ký các sắc lệnh bãi bỏ những loại thuế khóa bất công của thực dân Pháp, giảm tô 25% và tạm cấp cho nông dân nghèo những ruộng đất thu được của thực dân Pháp và Việt gian. Đồng thời, Người cũng bày tỏ sự tin tưởng vào giai cấp nông dân trong công cuộc kiến thiết đất nước, sau khi nước nhà được độc lập. Ngày 11-4-1946, trong bức thư gửi các điền chủ nông gia, Người viết: “Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp. Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc. Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn. Nông dân ta giàu thì nước ta giàu. Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh”5. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò của giai cấp nông dân: “Nông dân là tối đại đa số trong nhân dân nước ta, là bộ phận chủ chốt trong đội ngũ cách mạng, là giai cấp đóng góp nhiều nhất trong kháng chiến”6. Trong thư gửi “Hội nghị nông vận và dân vận toàn quốc” ngày 5-2-1953, Người tiếp tục nhấn mạnh: “Nông dân lao động là một lực lượng rất to lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân. Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công ắt phải dựa vào quần chúng nông dân. Muốn dựa vào nông dân ắt phải bồi dưỡng lực lượng của họ. Muốn nông dân có lực lượng dồi dào thì phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, áo mặc, nhà ở”7.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, một lần nữa trọng trách với dân tộc, với đất nước lại được đặt lên vai giai cấp nông dân. Người nông dân lúc này không chỉ đơn thuần là những người sản xuất ra hạt lúa, củ khoai, mà là những người anh hùng trong lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc từng bước đi lên CNXH và đấu tranh tiến tới giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Đánh giá vai trò của nông dân trong giai đoạn này, Người chỉ rõ: “nông dân ta đã anh hùng trong cách mạng, trong kháng chiến, trong cải cách ruộng đất, thì trong cuộc cách mạng biến đổi nông nghiệp từ thấp lên cao này nông dân ta cũng phải là anh hùng”8.

Như vậy, trong suốt cả chặng đường dài lịch sử, đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giai cấp nông dân là người bạn đồng hành đáng tin cậy, luôn kề vai, sát cánh cùng Đảng Cộng sản Việt Nam và toàn thể dân tộc. Giai cấp nông dân là lực lượng có đóng góp to lớn cho cách mạng, nhưng cũng là lực lượng chịu nhiều hy sinh, mất mát. Biết ơn và trân trọng những đóng góp và hy sinh to lớn đó, trước lúc đi xa, trong Di chúc, Hồ Chí Minh căn dặn Đảng và Chính phủ, khi kháng chiến thành công: “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”9; “Đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ (...), tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”10.

Quan điểm, tư tưởng về nông dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy Người vừa có tầm nhìn xa, trông rộng vừa vô cùng nhân văn, tinh tế. Người nhận ra sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân, biết cách khơi dậy sức mạnh đó và biến chúng thành động lực cách mạng mạnh mẽ. Những lời căn dặn trong Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho hậu thế vừa là những suy tư, trăn trở nhưng cũng vừa là tâm nguyện của Người mong cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

2. Sự vận dụng sáng tạo của Đảng

Những nhận định, đánh giá về vai trò của giai cấp nông dân đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc cũng như những lời động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành động lực to lớn đối với hàng chục triệu nông dân trên cả nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù điều kiện chiến tranh ác liệt, song nông dân miền Bắc vẫn hăng say lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ lương thực, tuyển quân, đáp ứng mọi yêu cầu cho tiền tuyến với khẩu hiệu “tất cả để cho tiến tuyền, tất cả để chiến thắng”; “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, giữ vững hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Nông dân miền Nam ở khu giải phóng, căn cứ kháng chiến tích cực tham gia các phong trào kháng chiến do các cấp ủy đảng, Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam và Chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam phát động như: phong trào tham gia lực lượng dân quân, du kích; phong trào cung cấp nhân lực, vật lực cho kháng chiến; phong trào đấu tranh trực diện với quân địch ở những vùng địch kiểm soát,... Những phong trào cách mạng rộng lớn của nông dân hai miền Nam-Bắc đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giành độc lập trọn vẹn cho dân tộc mùa Xuân năm 1975.

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cả nước bước vào thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội. Giai cấp nông dân tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, tham gia nhiều phong trào thi đua lao động sản xuất và xây dựng đời sống mới.

Tháng 12-1986, Đại hội lần thứ VI của Đảng thông qua Nghị quyết về đổi mới, tập trung phát triển nông nghiệp, thực hiện 3 chương trình kinh tế lớn, trong đó có chương trình sản xuất lương thực, thực phẩm nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nông dân. Kể từ đó đến nay, qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XII) của Đảng đều nêu rõ quan điểm, chủ trương về phát triển kinh tế nông nghiệp, xây dựng giai cấp nông dân trở thành vị trí trung tâm của nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó nổi bật là phong trào xây dựng nông thôn mới với các phong trào thi đua của nông dân trên phạm vi cả nước.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Hội Nông dân Việt Nam đã phát động phong trào thi đua phát triển kinh tế nông nghiệp trong toàn thể hội viên. Ngay tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ I Hội Nông dân Việt Nam (tháng 3-1988), đã thông qua Thư quyết tâm gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khẳng định toàn thể giai cấp nông dân Việt Nam tiếp tục “khắc phục khó khăn, phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện để có nhiều nông sản hàng hoá, đáp ứng đầy đủ nhu cầu lương thực, thực phẩm của xã hội và từng bước cải thiện đời sống cho nhân dân”11. Đặc biệt, tháng 1-1989, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Hội Nông dân Việt Nam đã phát động phong trào thi đua “Nông dân sản xuất-kinh doanh giỏi và làm giàu”12. Đây là phong trào thi đua phát triển sâu rộng nhất trong giai cấp nông dân Việt Nam kể từ năm 1989 đến nay. Phong trào có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với giai cấp nông dân và sự phát triển bền vững của đất nước.

Trong phong trào thi đua yêu nước của giai cấp nông dân, Hội Nông dân Việt Nam với tư cách là cầu nối giữa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước với người nông dân đã chủ động liên kết, phối hợp với các cơ quan, ban, ngành triển khai nhiều hình thức hỗ trợ nông dân rất cụ thể, thiết thực, mang lại hiệu quả cao như: hỗ trợ nông dân áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất, chế biến, bảo quản nông sản; hỗ trợ vốn, cây, con giống; hướng dẫn nông dân xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả: mô hình khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; tổ chức các lớp hướng dẫn, đào tạo nghề cho nông dân; hướng dẫn nông dân tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu mùa vụ,... Hội Nông dân các tỉnh, thành phố căn cứ vào chủ trương chung của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam để phát động các phong trào thi đua phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Trong đó, phong trào “Hộ nông dân đạt danh hiệu “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” đã thu hút đông đảo nông dân trong cả nước tham gia. Năm 1997, cả nước có hơn 8 triệu lượt hộ đăng ký thi đua đạt danh hiệu “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” các cấp, trong đó có gần 6 triệu lượt hộ đạt được danh hiệu này, tăng gần 2 lần so với năm 199313. Trong những năm 2003-2008, bình quân hằng năm, số hộ nông dân đăng ký phấn đấu đạt danh hiệu “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi” tăng 16,7% và số hộ đạt danh hiệu này tăng 13,6% so với 5 năm trước14. Trong những năm 2013-2018, bình quân mỗi năm, cả nước có hơn 6,5 triệu hộ đăng ký, trong đó trên 3,6 triệu hộ đạt danh hiệu này, đạt 113,2% so với chỉ tiêu Đại hội lần thứ VI Hội Nông dân đề ra15.

Phong trào “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và làm giàu” đã khích lệ, động viên nông dân quyết tâm vươn lên; đổi mới cách nghĩ, cách làm; khai thác tiềm năng, thế mạnh về tiền vốn, lao động, đất đai, phát huy tính sáng tạo của nông dân, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề nông thôn; từng bước chuyển từ nền kinh tế tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa, từ thuần nông độc canh sang đa canh, đa nghề, từng bước hình thành vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh tập trung gắn với công nghiệp chế biến, đảm bảo xóa đói, giảm nghèo bền vững.

Từ thực tiễn phong trào, rất nhiều mô hình sản xuất điển hình của nông dân đã xuất hiện, như: Mô hình nuôi tôm càng xanh ở Bến Tre; mô hình nuôi bò lai Sind của đồng bào Mông ở Cao Bằng, đồng bào Dao ở Sơn La; phát triển sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ của Hội Nông dân Phú Thọ, Đà Nẵng,...

Tại nhiều địa phương, nông dân được khuyến khích thực hiện dồn điền, đổi thửa nhằm giảm bớt tình trạng manh mún ruộng đất, xây dựng các vùng sản xuất chuyên canh và các mô hình kinh tế nông nghiệp ứng dụng khoa học, kỹ thuật theo quy trình, tiêu chuẩn sản xuất an toàn, bền vững (VietGAP) và xây dựng mô hình cánh đồng mẫu lớn, ứng dụng đồng bộ các giải giáp kỹ thuật hiện đại trong sản xuất như ở Long An, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang, Cần Thơ. Đây được xem là một giải pháp quan trọng và lâu dài, góp phần tái cơ cấu ngành nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Song song với việc nhân rộng các mô hình kinh tế đạt hiệu quả cao, nông dân còn tích cực phát triển mô hình kinh tế trang trại nhằm phát huy lợi thế của từng vùng, từng địa phương. Năm 2012, cả nước có 20.065 trang trại, trong đó có 8.642 trang trại trồng trọt, 6.202 trang trại chăn nuôi, 4.433 trang trại nuôi trồng thủy sản. Đến năm 2017, số trang trại của cả nước tăng lên 29.600, trong số đó, một số mô hình đem lại doanh thu từ 1-3 tỷ đồng/năm; thậm chí từ 5-10 tỷ đồng/năm16. Nhiều hộ sản xuất, kinh doanh giỏi đã vươn lên thành chủ các doanh nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp.

Qua Phong trào “Nông dân sản xuất, kinh doanh giỏi và làm giàu” đã xuất hiện nhiều tấm gương nông dân điển hình trong sản xuất, kinh doanh giỏi, nhiều mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại tổng hợp, hợp tác xã, tổ hợp tác liên kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị, mang lại hiệu quả kinh tế cao. Nhiều nông dân đã mạnh dạn nghiên cứu, tìm tòi sáng chế nhiều loại máy móc, công cụ như máy bơm nước, máy cấy, máy gặt, máy tra hạt, máy tẽ ngô, đỗ, bóc lạc, thái hành, tỏi, băm bèo,... ứng dụng các tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công nghệ vào phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đem lại hiệu quả kinh tế, xã hội cao. Qua đó, nhiều nông dân đã đạt giải thưởng “Nhà nông sáng tạo” của Trung ương Hội Nông dân Việt Nam.

Những cố gắng của toàn thể giai cấp nông dân đã góp phần quan trọng đưa nông nghiệp Việt Nam vững bước tiến lên. Nếu như năm 1989-năm thứ hai thực hiện phong trào thi đua “Nông dân sản xuất-kinh doanh giỏi và làm giàu, sản lượng lương thực của cả nước đạt 21,58 triệu tấn17, năm 1997 tăng lên 30.6 triệu tấn18 và năm 2018 tăng lên gần 44 triệu tấn19. Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trầm trọng và kéo dài, đến năm 2018 đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 thế giới, với giá trị xuất khẩu đạt 3,06 tỷ USD, tăng 5,1% về lượng và 16,3% về giá trị so với năm 201720. Nông sản Việt Nam đã có mặt trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả ở những thị trường khó tính nhất như EU, Mỹ, Nhật,... Năm 2018, lần đầu tiên ngành nông nghiệp Việt Nam ghi nhận giá trị xuất khẩu đạt 40,02 tỷ USD-mức cao nhất cho xuất khẩu của ngành tính đến thời điểm năm 201821. Tỷ lệ hộ nghèo tiếp tục giảm nhanh, năm 2017, tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn còn 8,0%; ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, xã biên giới, xã an toàn khu vùng dân tộc và miền núi giảm khoảng từ 3 đến 4%/năm22. Năm 2019, Việt Nam trở thành “nền kinh tế đứng thứ 6 Đông Nam Á và đứng thứ 46 thế giới”23.

Quan điểm của Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân đến nay vẫn là cơ sở nền tảng để Đảng, Nhà nước, Hội nông dân Việt Nam tiếp tục có quan điểm, chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh, trưởng thành đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần to lớn vào những thành quả mà cách mạng Việt Nam đạt được, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 6/2020

1. https://lecourrier.vn/alain-ruscio-ho-chi-minh%20un-exemple-qui-reste-tres-actuel/778133.html

2. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 2, tr. 2

3, 7. Sđd, T. 8, tr. 31, 424

4. Vũ Quang Hiển: Đảng với vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn (1930-1975), Nxb CTQG, H, 2013, tr. 382

5. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 246

6. Sđd, T. 6, tr. 458

8. Sđd, T. 11, tr. 417

9,10. Sđd, T. 15, tr. 622, 617

11, 12, 13, 14, 18. Hội Nông dân Việt Nam: Lịch sử phong trào nông dân và Hội Nông dân Việt Nam (1930-2015), Nxb CTQG, H, 2016, tr. 424, 437, 558, 695, 524

15. Báo cáo kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Nông dân Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2018-2023 (http://hoinongdan.org.vn/sitepages/news/30/73621/bao-cao-nhanh-ket-qua-dai-hoi-vii-hoi-ndvn-nhiem-ky-2018-2023%22)

16. http://dangcongsan.vn/kinh-te/phat-trien-kinh-te-trang-trai--huong-di-dung-cua-san-xuat-nong-nghiep-hang-hoa-tap-trung-447734.html

17. Nguyễn Sinh Cúc, ThS. Phạm Mai Ngọc: Sức sống về lý luận và thực tiễn của Nghị quyết 10, Bộ Chính trị Khóa VI trong 25 năm qua (http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Viet-nam-tren-duong-doi-moi/2014/25235/Suc-song-ve-ly-luan-va-thuc-tien-cua-Nghi-quyet-10.aspx)

19. Tổng cục Thống kê (https://www.gso.gov.vn/Default.aspx?tabid=217)

20. http://vneconomy.vn/viet-nam-du-kien-xuat-khau-6-trieu-tan-gao-nam-2019-20190227134006952.htm

21. http://dangcongsan.vn/chao-xuan-ky-hoi-2019/dat-nuoc-vao-xuan/nong-nghiep-viet-nam-2018-mot-nam-thang-loi-lon-512524.html

22. https://www.nhandan.com.vn/kinhte/item/37667502-tu-nghi-quyet-ve-%E2%80%9Ctam-nong%E2%80%9D-den-nen-nong-nghiep-hien-dai-ky-1.html

23. https://vietnammoi.vn/nen-kinh-te-viet-nam-dung-thu-46-the-gioi-20190712161756925.htm.

ThS NGUYỄN THỊ HẰNG PHƯƠNG

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1. Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giai cấp nông dân Chủ tịch Hồ Chí Minh-Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam. Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn sống khiêm tốn, giản dị. Người rất trân trọng, gần gũi và đồng cảm sâu sắc với nhân dân. Nhà sử học người Pháp Alain Ruscio-trong cuộc trả lời phỏng vấn với báo Le Courrier du Vietnam, ngày 12-5-2020 đã nói: “Bác Hồ là người chân thành, khiêm tốn, giản dị, không màng danh lợi. Ngay cả khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Bác vẫn không từ bỏ phong cách sống giản dị đó. Với nhân cách cao quý ấy, Bác vẫn luôn là điển hình vẹn nguyên giá trị thời đại”

Tin khác cùng chủ đề

Công tác phòng, chống quan liêu theo tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, gần dân, sát dân, vì Nhân dân phục vụ
Giải phóng con người - Triết lý nhân văn, phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh và việc vận dụng sáng tạo trong kỷ nguyên phát triển mới
Chủ nghĩa Mác - Lênin với việc hình thành phong cách làm việc quần chúng của Hồ Chí Minh
Quan điểm, chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân - Một số vấn đề đặt ra đối với việc vận dụng, phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước
Bác Hồ với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển đội ngũ nhà giáo và sự vận dụng của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Gửi bình luận của bạn