Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại, đồng thời là nhà báo lỗi lạc. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người đã để lại một di sản với hàng nghìn bài viết trở thành vũ khí sắc bén trong cuộc đấu tranh giành và bảo vệ nền độc lập dân tộc. Bài viết tập trung làm rõ những quan điểm của Hồ Chí Minh về tự do báo chí và sự vận dụng vào phê phán, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về tự do báo chí và báo chí cách mạng Việt Nam. Đồng thời khẳng định: báo chí cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là báo chí tự do - tự do phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và hiện nay là phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về tự do báo chí nhằm phê phán, bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch cho rằng Việt Nam không có “tự do báo chí”
Vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về tự do báo chí nhằm phê phán, bác bỏ luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch cho rằng Việt Nam không có “tự do báo chí”
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài báo, tạp chí để tuyên truyền vận động quần chúng. Từ thực tiễn kinh nghiệm viết báo, Người đã đúc kết nên hệ thống quan điểm về hoạt động báo chí làm cơ sở nền tảng xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm lí luận về báo chí của Người có quan điểm về tự do báo chí, không chỉ có giá trị chỉ dẫn đối với phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam suốt gần 100 năm qua mà nó còn có khả năng vận dụng vào phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch về tự do báo chí và báo chí cách mạng Việt Nam.
 
1. Bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc cho rằng chỉ có ở các nước tư bản mới có tự do báo chí, tự do báo chí là tuyệt đối, không có giới hạn
Thứ nhất, ở các nước thuộc địa, các nước đế quốc thực hiện chính sách hạn chế tự do báo chí, đàn áp báo chí tiến bộ. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh có điều kiện khảo sát về nền báo chí phương Tây ở tại các nước tư bản và các nước thuộc địa. Qua thực tế tìm hiểu, Người thấy rằng, ở Việt Nam dưới sự cai trị của chủ nghĩa tư bản thực dân Pháp không có tự do báo chí. Năm 1920, tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua (Tours), Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tố cáo: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận”1. Người chỉ rõ nhà cầm quyền chỉ cho phép xuất bản những tờ báo thể hiện ý chí của giai cấp thống trị, ca ngợi, tán dương chủ nghĩa thực dân. Người viết: “Về mặt báo chí, xuất bản bằng tiếng phương Đông, Chính phủ giành lấy cái quyền hạn bỉ ổi chỉ cho phép xuất bản những loại nào ca ngợi mình và sau khi đã có kiểm duyệt rồi. Chính phủ lợi dụng cái đặc quyền độc đoán ấy để lập ra những tờ báo tiếng An Nam theo ý mình được hưởng trợ cấp bí mật của Nhà nước và chuyên việc làm quảng cáo tuyên truyền cho Chính phủ và thường kỳ viết những bài phỉnh nịnh các quan trên có thế lực ở thuộc địa. Ấy thế mà, Chính phủ Đông Dương lại muốn biến chính hệ thống nhồi sọ này thành chế độ tự do báo chí của người bản xứ đấy!”2.
Thực trạng tự do báo chí ở xứ An Nam được Người nêu lên: “Giữa thế kỷ XX này, ở một nước có đến 20 triệu dân mà không có lấy một tờ báo! Các bạn có thể tưởng tượng được như thế không? Không có lấy một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ của chúng tôi. Lí do như thế này. Chính quyền Pháp quyết định rằng không một tờ báo bằng tiếng An Nam nào được xuất bản nếu không được viên Toàn quyền cho phép, rằng họ chỉ cho phép với điều kiện là bản thảo đưa đăng phải trình viên Toàn quyền duyệt trước đã, và giấy phép ấy họ thu hồi lúc nào cũng được”3.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh chỉ rõ, báo chí ở các nước thuộc địa, ngoài việc ca ngợi nhà cầm quyền, lừa bịp nhân dân, không bàn đến chuyện kinh tế, xã hội, tình hình khổ cực của nhân dân lao động; “chỉ nói đến chuyện nắng mưa, tán dương những kẻ quyền thế đương thời, kể chuyện vớ vẩn, ca tụng công ơn của nền khai hóa và ru ngủ dân chúng”4. Chính quyền thực dân đế quốc kiểm soát rất gắt gao đối với nội dung báo chí, không cho người bản xứ đứng ra xuất bản các tờ báo kể cả các tờ báo thuần túy kinh tế và thương mại. Báo chí bị chính quyền thực dân kiểm duyệt, những thông tin không có lợi cho nhà cầm quyền ngay cả những thông tin về thiên tai, hạn hán, mất mùa... Chính quyền thực dân đế quốc cũng không cho đăng báo vì sợ nhân dân ủng hộ, giúp đỡ nhau tạo ra sự cố kết cộng đồng, đoàn kết dân tộc, nghiêm cấm đăng những tin bài liên quan đến chính trị. Người đã viết: “Trước khi đưa đi nhà in, tất cả các bài báo phải dịch ra tiếng Pháp và đưa kiểm duyệt đã. Cấm ngặt những tờ thông tin ấy không được đả động gì đến những vấn đề chính trị hay tôn giáo, mà chỉ được đăng những tin tức thông thường, những vấn đề xét ra có lợi cho Nhà nước. Khi đất nước bị một thiên tai nào, lụt lội, bão táp, đói kém,v.v.., phòng kiểm duyệt cấm báo không được cho dân chúng biết những tin “không vui” ấy, cấm báo không được mở lạc quyên giúp những người bị nạn. Báo không có quyền nói gì, dù chỉ bóng gió, đến việc bầu cử Hội đồng thuộc địa hay hội đồng hàng tỉnh. Có một tờ, dịch ra tiếng An Nam đạo luật cấm những hành vi hối lộ trong việc tuyển cử, đã bị kiểm duyệt trắng mất nửa tờ báo mà còn bị khiển trách thêm nữa. Nhiều khi người ta cấm cả dịch đăng những bài đã đăng ở các báo tiếng Pháp xuất bản ở Đông Dương”5.
Chính quyền thực dân không cho phép người bản xứ đứng làm chủ biên tờ báo, mà phải mượn danh người nước ngoài để xuất bản. Như vậy thì làm gì có cái gọi là tự do báo chí: “Ngay cho đến cả những tờ thông tin thuần túy về kinh tế và thương mại, người ký giả bản xứ cũng chỉ xin được phép bằng những biện pháp quanh co. Anh ta phải thuê tiền một người Pháp có địa vị và được kính nể. Ông này đi gặp quan cai trị và xin phép cho ông ta, là người Pháp. Vì ông ta vẫn sẽ là sáng lập viên của tờ báo, mặc dầu ông chẳng biết một tiếng An Nam nào gọi là có, ông chẳng phải bỏ tiền túi ra lấy một xu nhỏ, chẳng phải đụng tí gì đến công việc của tờ báo cả trừ việc đi gặp viên quan cai trị”6. Không chỉ ở các nước thuộc địa không có tự do báo chí, ngay cả đọc báo chí có tính chất tiến bộ được xuất bản ở các nước tư bản cũng bị ngăn cấm “Báo chí bằng tiếng Pháp, xuất bản ở Pari, gửi sang đều bị tịch thu ở Đông Dương. Sở Bưu chính, Sở Mật thám và các cơ quan hành chính cùng nhau làm nhiệm vụ đê hèn ấy. Và người ta dọa trừng phạt những người có tên nhận những tờ báo ấy. Người ta cấm ngặt không cho đọc báo Nhật và Trung Quốc. Giữ một tờ tạp chí, một quyển sách Trung Quốc nào đó có thể là một trọng tội đối với người An Nam. Tôi biết nhiều nhà văn thân bị kết án khổ sai chung thân vì đã đọc tạp chí Trung Quốc hồn”7.
Thứ hai, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho rằng, ngay tại các nước tư bản phát triển như Mỹ hay Pháp... cũng không hề có tự do báo chí thực sự, báo chí phục vụ giai cấp tư sản thống trị. Người vạch trần sự giả tạo, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động luôn cho rằng báo chí không mang tính giai cấp và chỉ có báo chí tư sản mới là báo chí tự do vì nó không mang tính giai cấp, tính chính trị. Người chỉ rõ: “Có người nói ở các nước tư bản có tự do báo chí và báo chí không có giai cấp. Nói vậy không đúng. Ví dụ: Các báo Pháp như báo Phigarô, báo Nước Pháp buổi chiều, v.v., một mặt nó ru ngủ nhân dân, chia rẽ nhân dân, làm cho nhân dân mất chí khí phấn đấu, mất tinh thần đoàn kết giai cấp; mặt khác, nó phục vụ giai cấp tư sản. Đó là những tờ báo chính trị. Lại còn những tờ báo “giật gân”, báo nói về ái tình, báo chuyên về lôi chuyện bí mật của những người có tiền ra để tống tiền, v.v.. Tất cả những báo chí ấy đều phục vụ lợi ích của giai cấp bóc lột. Báo chí Pháp có thật tự do không? Không! Ví dụ báo Nhân đạo thường bị bọn thống trị tìm mọi cách để phá: nào phạt tiền, nào cho bọn du côn phá phách, nào làm khó khăn về giấy in, nhiều khi báo bị tịch thu, v.v..”8. Ngay cả ở nước Mỹ, giới cầm quyền luôn tự coi mình là quốc gia có nền dân chủ nhất thế giới, thì tự do báo chí cũng chỉ là lời nói suông, lừa bịp, mị dân, báo chí phục vụ ý chí của giai cấp thống trị tư sản và mục đích thương mại kiếm tiền “ở Mỹ, những sách báo tiến bộ đều bị chính quyền cho là tuyên truyền cộng sản và bị cấm ngặt. Trái lại, những sách báo trụy lạc thì rất thịnh hành. Theo lời một cựu Bộ trưởng Bộ Bưu điện thì mỗi năm bọn bán sách “lợn” (khiêu dâm) thu nhập hơn 2.000 triệu đôla. Hiện nay các báo Mỹ đang quảng cáo rùm beng cho quyển Tổng hợp các án mạng gồm 1.126 vụ giết người rùng rợn!”9.
Trong thực tiễn hiện nay trên thế giới không có quốc gia nào kể cả những nước được coi là dân chủ nhất như: Mỹ, Anh, Pháp... cũng không có nền báo chí “tự do tuyệt đối”, báo chí hoạt động trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Trong xã hội tư bản, báo chí hoạt động trong môi trường của pháp luật tư sản cái mà họ gọi là “tự do báo chí” là tự do phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, ví dụ như “Ở Mỹ - nơi được các “nhà dân chủ” xem như một hình mẫu của “thế giới tự do” khi họ viện dẫn Hiến pháp Liên bang Hoa Kỳ quy định Quốc hội không có quyền ban hành văn bản hạn chế tự do báo chí. Tuy nhiên, họ quên rằng, rất nhiều đạo luật, bộ luật đã cụ thể hóa vấn đề này. Đạo luật Trấn áp phản loạn của nước Mỹ quy định: “Việc viết, in, phát biểu hay phổ biến... mọi văn bản sai sự thật, có tính chất xúc phạm hay ác ý chống chính quyền đều là tội”. Hay Điều 238 Bộ luật Hình sự của Mỹ nghiêm cấm mọi hành vi: In ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật độ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực’’10.
Như vậy, trên thế giới hiện nay ở tất cả các quốc gia, kể cả các nước tư bản phát triển nhất báo chí đều hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, không có “tự do báo chí không giới hạn” và “báo chí không mang tính giai cấp”. Ở nước tư bản thì báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật giai cấp tư sản thống trị. Còn ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta khẳng định tôn trọng và bảo đảm quyền tự do báo chí. Báo chí tự do hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, được pháp luật bảo vệ. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí...”11. Luật Báo chí năm 2016, Điều 13. Trách nhiệm của Nhà nước đối với quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân
1. Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình.
2. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân.
3. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng.
Đúng như chỉ dẫn của Hồ Chí Minh, báo chí cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng phát triển và hoạt động đúng quy luật, xu thế của thế giới, chân lý thời đại
Với những quan điểm được đúc kết từ những minh chứng thực tiễn phong phú trong quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã nêu lên những luận điểm quan trọng phê phán, bác bỏ những luận điệu cho rằng tự do báo chí chỉ có ở các nước tư bản và báo chí không mang tính giai cấp, tự do báo chí là tuyệt đối và không có giới hạn.
 
2. Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc cho rằng “ở Việt Nam không có tự do báo chí”
Thứ nhất, báo chí cách mạng Việt Nam là báo chí hoạt động tự do. Theo Hồ Chí Minh, tự do báo chí ở đây là tự do phục vụ sự nghiệp cách mạng, tự do phục vụ đại đa số nhân dân lao động. Hồ Chí Minh
khẳng định không có báo chí đứng ngoài giai cấp, đứng ngoài chính trị, báo chí cách mạng Việt Nam làm công tác tuyên truyền, cổ động cuộc đấu tranh của dân tộc, Người nêu lên nội dung một tờ báo Đảng cần phải có là gì? “Tờ báo Đảng là như những lớp huấn luyện giản đơn, thiết thực và rộng khắp. Nó dạy bảo chúng ta những điều cần biết làm về tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo và công tác. Hàng ngày nó giúp nâng cao trình độ chính trị và năng suất công tác của chúng ta”12.
Trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ II, Hội Nhà báo Việt Nam năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: mục đích nhất quán của báo chí cách mạng Việt Nam là phục vụ sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH “Báo chí của ta thì cần phải phục vụ nhân dân lao động, phục vụ chủ nghĩa xã hội, phục vụ cho đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, cho hòa bình thế giới”13.
Có thể nói, theo Hồ Chí Minh, nền báo chí cách mạng nước ta do Đảng lãnh đạo là báo chí tự do vì nó phục vụ sự nghiệp cách mạng dân tộc mà sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng CNXH là chân lí của thời đại...
Thứ hai, báo chí cách mạng Việt Nam tự do phục vụ toàn thể nhân dân Việt Nam, đặc biệt là đại đa số nhân dân lao động. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Trái ngược với báo chí ở các nước tư bản, báo chí phục vụ đối tượng chính là giai cấp thống trị, phục vụ nhu cầu giải trí, kiếm tiền của giai cấp tư sản... Người khẳng định, báo chí của ta là báo chí phục vụ nhân dân, nên từ nội dung và hình thức phải làm sao cho mọi người dân, từ những người có trình độ dân trí rất thấp đến những trí thức đều có thể hiểu được và yêu thích. “Báo chí ta không phải để cho một số ít người xem, mà để phục vụ nhân dân, để tuyên truyền giải thích đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ”14.
Thứ ba, báo chí cách mạng Việt Nam là báo chí tự do, vì báo chí luôn tôn trọng tính chân thực, khách quan. Theo Hồ Chí Minh, nội dung thông tin của báo chí cần phải phong phú, đa dạng, song yêu cầu trước tiên và cao nhất của báo chí theo Người là phải chân thực. Không giống như báo chí tư sản đưa ra những thông tin mập mờ, mị dân để làm sao có lợi cho giai cấp thống trị, Hồ Chí Minh khẳng định nguyên tắc hàng đầu của báo chí cách mạng là tính chân thực: “Có thế nào nói thế ấy. Bộ đội và nhân dân ta cũng đủ nhiều cái hay để nêu lên, không cần phải bịa đặt ra”15.
Quan điểm này của Hồ Chí Minh chính là quán triệt quan điểm của V.I.Lênin về báo chí. V.I.Lênin coi báo chí cách mạng có sức mạnh tập hợp đông đảo quần chúng chính là ở tính chân thật: “Thật là lố bịch nếu nghĩ rằng nhân dân đi theo những người bôn-sê-vích vì những người bôn-sê-vích cổ động khéo hơn. Không, vấn đề là ở chỗ sự cổ động của những người bôn-sê-vích là chân thực”16. Báo chí phải luôn tôn trọng ý kiến của nhân dân đăng tải ý kiến của nhân dân và có ý kiến hồi đáp ý kiến nhân dân. Người nhắc nhở: “Các báo thường đăng lời phê bình của nhân dân. Nhưng nhiều khi như “nước đổ đầu vịt”, cán bộ cơ quan và đoàn thể được phê bình cứ im hơi lặng tiếng, không tự kiểm điểm, không đăng báo tự phê bình và hứa sửa chữa”17.
Nói rõ sự thật, theo Hồ Chí Minh cũng chính là khẳng định tính công khai của báo chí cách mạng Việt Nam. Đó cũng là sự phản ánh tính chất dân chủ của nền dân chủ XHCN rộng rãi, với quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng. Nói rõ sự thật là bảo đảm để “dân biết”. Đấy cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định:
“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân...”18
Thứ tư, báo chí cách mạng Việt Nam là báo chí tự do vì là diễn đàn ngôn luận của nhân dân, nói tiếng nói của nhân dân. Nhân dân có quyền phản ánh ý kiến của mình trên báo. Trong thư gửi lớp học viết báo Huỳnh Thúc Kháng, Người viết: “Đối tượng của tờ báo là đại đa số dân chúng. Một tờ báo không được đại đa số dân chúng ham chuộng, thì không xứng đáng là một tờ báo. Muốn được dân chúng ham chuộng, coi tờ báo ấy là tờ báo của mình, thì: Nội dung tức là các bài báo phải giản đơn, dễ hiểu, phổ thông, thiết thực, hoạt bát. Và: Hình thức tức là cách sắp đặt các bài, cách in phải sạch sẽ, sáng sủa”19.
Thứ năm, báo chí và những người hoạt động báo chí ở Việt Nam được tạo điều kiện hoạt động, nâng cao trình độ. Đối với những nhà báo tự do sáng tạo là yếu tố quan trọng nhất đưa đến thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh hiểu rất rõ vai trò quan trọng của người làm báo, chỉ khi những người làm báo được tự do sáng tạo mới nâng cao chất lượng của báo chí phục vụ tốt nhiệm vụ của cách mạng và phục vụ nhân dân. Muốn được như vậy, điều cần thiết đối với nhà báo là phải “Gần gụi dân chúng, cứ ngồi trong phòng giấy mà viết thì không thể viết thiết thực”20. Người nhấn mạnh những nhà báo cách mạng viết báo không phải để cho oai, để “lưu danh thiên cổ” mà nhà báo phải nêu cao tinh thần trách nhiệm “Làm việc gì có ích cho nhân dân, cho cách mạng...”21. Để báo chí có thể phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, Người đòi hỏi người làm báo phải tăng cường học tập chuyên môn, nghiệp vụ, tu dưỡng đạo đức “nhiệm vụ của người làm báo là quan trọng và vẻ vang. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ ấy thì phải cố gắng học tập chính trị, nâng cao tư tưởng, đứng vững trên lập trường giai cấp vô sản; phải nâng cao trình độ văn hóa, phải đi sâu vào nghiệp vụ của mình. Cần phải luôn luôn cố gắng, mà cố gắng thì nhất định thành công”22. Người làm báo cần được đào tạo chuyên nghiệp, “Ít nhất cũng phải biết một thứ tiếng nước ngoài, để xem báo nước ngoài, và học kinh nghiệm của người”23
Báo chí chính là hoạt động tinh thần quan trọng của một xã hội, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy xã hội phát triển. Đó chính là thước đo về tinh thần và trình độ dân chủ của một xã hội. Sự tự do của báo chí được thể hiện bằng ý chí và nguyện vọng của đại đa số nhân dân chứ không phải là của một bộ phận giai cấp thống trị, thể hiện tầm nhìn thời đại của Hồ Chí Minh về tự do báo chí.
Trong giai đoạn hiện nay, do tác động mặt trái của kinh tế thị trường..., hoạt động báo chí có thời điểm, có tờ báo, tạp chí đã có những hạn chế, lệch lạc như thông tin không đúng với tôn chỉ, mục đích, không đúng đối tượng; thông tin sai sự thật; không kiểm chứng tính xác thực của thông tin, thông tin giật gân, câu khách, không phù hợp với thuần phong mỹ tục, văn hóa Việt Nam, thậm chí có trường hợp bị thế lực thù địch, phản động lợi dụng phản tuyên truyền. Đặc biệt nguy hiểm là trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam từ nhiều hướng, trên nhiều lĩnh vực, bằng nhiều biện pháp, thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc. Một trong những lĩnh vực mà các thế lực thù địch tấn công mạnh mẽ là lĩnh vực báo chí và coi đó là “đột phá khẩu” vào nền tảng tư tưởng của Đảng nhằm mục đích xâm nhập, kích động thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”, nền báo chí cách mạng Việt Nam sang lập trường, quan điểm của chủ nghĩa tư bản, để từ đó, làm thay đổi đường lối lãnh đạo của Đảng, làm chệch hướng XHCN mà Đảng, dân tộc ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Vận dụng quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về báo chí cách mạng, về tự do báo chí là vũ khí tư tưởng, lí luận sắc bén để đấu tranh, phản bác các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước rêu rao luận điệu “tự do báo chí tại Việt Nam bị kiểm soát chặt”, “Việt Nam không có tự do báo chí”24. Họ cho rằng, chỉ có ở các nước phương Tây mới có tự do báo chí và tự do báo chí là tuyệt đối. Từ đó đòi tự do báo chí tư nhân, tương tự các quốc gia phát triển tư bản. Từ quan điểm Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động, đóng góp của báo chí cách mạng Việt Nam cho thấy, các thế lực thù địch đã cố tình lờ đi sự thật về quyền tự do báo chí của Việt Nam; không chịu thừa nhận những thành tựu to lớn trên lĩnh vực báo chí ở Việt Nam hơn 99 năm qua, kể từ khi nền báo chí cách mạng Việt Nam ra đời (1925) với sự xuất hiện của báo Thanh niên cho Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh sáng lập, cho đến ngày nay.
Những quan điểm lí luận, thực tiễn của Hồ Chí Minh về tự do báo chí là sự phản bác đanh thép đối với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng ở Việt Nam không có tự do báo chí; rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền tự do bị báo chí cấm cản. Đây là những điểm hoàn toàn bịa đặt và sai trái. Cũng chính từ các luận điểm của Người về báo chí và thực tiễn hoạt động của báo chí cách mạng Việt Nam suốt 99 năm qua đã khẳng định báo chí cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là báo chí tự do - tự do ở đây là tự do phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc trước đây và hiện nay là phục vụ sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN, phục vụ nhân dân. Báo chí cách mạng còn là diễn đàn của Đảng và các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội,... cũng đồng thời là tiếng nói của nhân dân.
Vì vậy, cần thiết nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển những quan điểm của Hồ Chí Minh về tự do báo chí nêu trên trong lí luận và thực tiễn chỉ đạo và hoạt động của báo chí, nhằm bác bỏ những luận điệu xuyên tạc cho rằng chỉ có ở các nước tư bản mới có tự do báo chí và báo chí cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng không có tự do báo chí; đồng thời, khẳng định: dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng Việt Nam đã đóng góp quan trọng vào sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
 
 
 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 10/2024
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 1, tr. 34-35, 19, 428, 428, 429, 428-429, 432
8, 13, 14, 21, 22. Sđd, T. 12, tr. 166, 166, 167, 166, 167
9. Sđd, T. 13, tr. 319
10. Dẫn theo Phùng Kim Lân: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động báo chí, văn học - nghệ thuật là tất yếu” trong tác phẩm: Phê phán các quan điểm sai trái, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về chính trị trong Đảng, Nxb CTQG-ST, H, 2017, tr. 506
 11. Quốc hội: Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb CTQG-ST, H, 2016, tr. 21
12, 15. Sđd, T. 8, tr. 514, 206
16. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2006, T. 40, tr. 81
17. Sđd, T. 10, tr. 415
18, 19, 20, 23. Sđd, T. 6, tr. 232, 102, 103, 103
24. Báo Công an nhân dân: “Tái diễn luận điệu xuyên tạc nền báo chí cách mạng Việt Nam”, https://cand.com.vn/Chong-dien-bien-hoa-binh/, ngày đăng 21-6-2023.
TS NGUYỄN DUY HẠNH
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã viết nhiều bài báo, tạp chí để tuyên truyền vận động quần chúng. Từ thực tiễn kinh nghiệm viết báo, Người đã đúc kết nên hệ thống quan điểm về hoạt động báo chí làm cơ sở nền tảng xây dựng nền báo chí cách mạng Việt Nam. Trong hệ thống quan điểm lí luận về báo chí của Người có quan điểm về tự do báo chí, không chỉ có giá trị chỉ dẫn đối với phát triển nền báo chí cách mạng Việt Nam suốt gần 100 năm qua mà nó còn có khả năng vận dụng vào phê phán, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch về tự do báo chí và báo chí cách mạng Việt Nam. 1. Bác bỏ những luận điệu tuy&

Tin khác cùng chủ đề

Tính nhất quán và sự vận dụng sáng tạo tư tưởng đối ngoại Hồ Chí Minh trong quan hệ ngoại giao Việt Nam - Hoa Kỳ: từ khởi nguồn lịch sử đến đối tác chiến lược toàn diện
Vận dụng Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy trách nhiệm nêu gương trong xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay
Cơ sở bản thể luận của quản lý nhà nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh và giá trị vận dụng hiện nay
Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất, sứ mệnh và vai trò của giáo dục từ tiếp cận lịch sử đến tầm nhìn thời đại
Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã và sự vận dụng ở Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong phát triển mô hình hợp tác xã ở Việt Nam

Gửi bình luận của bạn