Trong suốt chiều dài lịch sử cách mạng Việt Nam, công tác dân vận luôn giữ vai trò quan trọng kết nối giữa Đảng và nhân dân, góp phần huy động sức mạnh toàn dân trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong những năm 1969-1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết định. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam, các cấp bộ Đảng và đội ngũ cán bộ dân vận đã vận dụng sáng tạo những nguyên tắc cơ bản trong tiến hành công tác dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nên sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động giữa Đảng, quân đội và nhân dân, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1969-1975
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1969-1975
1. Một số nội dung cơ bản mang tính nguyên tắc trong tiến hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Thứ nhất, công tác dân vận phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò to lớn và sức mạnh của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người từng khẳng định: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”1. Người lại nói: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”2. Theo Người, trong tất cả các công việc của mình, mỗi cán bộ đều phải biết dựa vào dân. Công tác dân vận nhằm tuyên truyền, giáo dục, giác ngộ quần chúng nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước là một công việc hết sức khó khăn và phức tạp. Do vậy, muốn tiến hành hiệu quả thì phải biết tin vào sức mạnh to lớn của nhân dân, chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân. Người chỉ rõ: “cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”3.
Dân vận là phải thực sự giúp đỡ nhân dân, quan tâm chăm lo đến đời sống thiết thực của nhân dân chứ không phải lối ngoại giao qua loa. Vì vậy, Hồ Chí Minh luôn yêu cầu các cấp, các ngành phải lo cho dân từ việc lớn đến việc nhỏ: “Các công việc của Chính phủ làm phải nhằm vào một mục đích duy nhất là mưu cầu tự do hạnh phúc cho mọi người. Cho nên Chính phủ nhân dân bao giờ cũng phải đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy. Việc gì có lợi cho dân thì làm. Việc gì có hại cho dân thì phải tránh”4. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh luôn gắn bó và am hiểu sâu sắc cuộc sống, tình cảm và nguyện vọng của nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số. Người đã thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho cán bộ từ tỉnh đến xã phải ra sức giúp đỡ hơn nữa đồng bào rẻo cao về mọi mặt. Ngay cả trước lúc đi xa, Người còn mong Đảng: “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân5.
Dân vận nhằm mục tiêu đại đoàn kết dân tộc, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Muốn làm tốt công tác dân vận, cán bộ, đảng viên và đội ngũ dân vận, phải có niềm tin và liên hệ chặt chẽ với quần chúng, nhân dân, phải thực sự tôn trọng phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc. Mỗi dân tộc có tín ngưỡng, phong tục, tập quán, truyền thống, trình độ phát triển kinh tế và sắc thái văn hóa khác nhau, do đó, công tác dân vận ở mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi vùng, miền phải có những nội dung, biện pháp và bước đi phù hợp để đoàn kết được cộng đồng các dân tộc. Những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải đáp ứng nhu cầu thiết thực của từng vùng, miền và phải trên cơ sở tuyệt đối tôn trọng quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn trọng và bảo vệ những giá trị truyền thống, tuyệt đối không rập khuôn, áp đặt, không kỳ thị, phân biệt giữa dân tộc này với dân tộc khác, giữa tín ngưỡng, tôn giáo này với tín ngưỡng, tôn giáo khác. Từ đó, tạo được nền tảng vững chắc cho mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với dân và sự đoàn kết, đồng lòng trong việc thực hiện các nhiệm vụ cách mạng.
Thứ hai, phương pháp, tác phong công tác của người cán bộ dân vận phải chân thành, gần gũi
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến sự chân thành và gần gũi trong công tác dân vận. Người căn dặn cán bộ dân vận cần hòa mình với nhân dân, tôn trọng phong tục tập quán của họ, nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số. Người từng chỉ ra: “Đồng bào miền xuôi lên, được đồng bào miền núi giúp đỡ có nhiều cố gắng, sản xuất tốt, ăn ở tốt với đồng bào địa phương. Nhưng có một số rất ít đồng bào miền xuôi còn có những hành động không đúng, cho nên ảnh hưởng đến tình đoàn kết anh em... Phải đoàn kết các dân tộc, phải đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt”6.
Cán bộ dân vận phải có phương pháp, tác phong khoa học, sâu sát và phải hết sức tỉ mỉ, cụ thể. Người chỉ rõ, mỗi cán bộ phải: “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm. Chứ không phải chỉ nói suông, chỉ ngồi viết mệnh lệnh. Họ phải thật thà nhúng tay vào việc”7. Cán bộ dân vận phải nghe được dân nói, phải nói cho dân hiểu và phải làm cho dân tin; đi sâu, đi sát cơ sở, hòa mình với quần chúng, gắn bó với quần chúng; cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc với đồng bào. Cán bộ dân vận phải có cái tâm trong sáng, phải thực sự tin yêu đồng bào thì mới thấu hiểu đời sống, tâm tư tình cảm, nguyện vọng, ý kiến và những vấn đề bức thiết đang đặt ra hằng ngày của đồng bào. Muốn được lòng dân, được dân tin, dân yêu để dân tự nguyện đi theo cách mạng thì phải yêu dân, phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết thảy.
Thứ ba, công tác dân vận là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, công tác dân vận không chỉ là nhiệm vụ của một bộ phận hay một tổ chức nào mà là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị. Người khẳng định: “Tất cả cán bộ chính quyền, tất cả cán bộ Đoàn thể và tất cả hội viên của các tổ chức nhân dân… đều phải phụ trách dân vận8. Mọi cán bộ, đảng viên đều phải chăm lo công tác dân vận và làm tốt công tác dân vận theo chức trách của mình. Trong quá trình tiến hành công tác dân vận, cần khắc phục tình trạng hành chính hóa, phô trương, hình thức, quan liêu, xa dân; đồng thời, phải khắc phục nhận thức không đúng của một số cấp ủy và cán bộ, đảng viên cho rằng công tác dân vận chỉ là của cán bộ chuyên trách trong các tổ, đội công tác, hoặc của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị. Công tác dân vận phải thiết thực, hướng tới lợi ích của nhân dân và gắn bó mật thiết với đời sống nhân dân. Cán bộ tuyệt đối không được quan liêu khi làm công tác dân vận, vì “Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời may có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”9. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, cho nên ở bất cứ thời kỳ nào và trên bất cứ lĩnh vực hoạt động nào, công tác vận động quần chúng và tổ chức quần chúng làm cách mạng cũng giữ vai trò chiến lược.
2. Sự vận dụng của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước giai đoạn 1969-1975
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận, đặc biệt là những nguyên tắc cơ bản để tiến hành dân vận, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, công tác dân vận không chỉ dừng lại ở tuyên truyền, giác ngộ chung chung mà hướng vào mục tiêu hoàn thành sự nghiệp cách mạng: giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước - mục tiêu, động lực to lớn trong phong trào quần chúng. Công tác dân vận nhằm phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân, quyết tâm thắng Mỹ như Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”10.
Đầu năm 1969, Tổng thống Hoa Kỳ, Níchxơn đã triển khai chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục đích của chiến lược này là rút được quân viễn chinh về nước mà vẫn duy trì chủ nghĩa thực dân kiểu mới thông qua chính quyền tay sai Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam Việt Nam, không ngừng gia tăng các âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý, giành đất, giành dân, tiến hành cuộc chiến truyền thông, kết hợp với các đợt tiến công quân sự đánh phá, khủng bố ác liệt phong trào, lực lượng kháng chiến. Tình hình đó đòi hỏi công tác dân vận phải được đẩy mạnh, tăng cường hiệu quả để giành thắng lợi trên “một mặt trận khác” đầy cam go này.
 Từ ngày 27-1 đến ngày 11-2-1972, Ban Chấp hành Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị lần thứ 20 khóa III, chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam và tiếp tục xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đối với công tác dân vận, Hội nghị xác định: “Vấn đề quan trọng bậc nhất là tập hợp quần chúng rộng rãi, tổ chức lực lượng của quần chúng, xây dựng đội ngũ đấu tranh chính trị, xây dựng tổ chức nòng cốt, xây dựng đảng, phấn đấu tích cực để thu hút đông đảo quần chúng cơ bản và các tầng lớp khác vào mặt trận đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng”11. Trước khi Hiệp định Paris được ký kết, ngày 24-1-1973, Ban Bí thư ban hành Chỉ thị số 200-CT/TW “Về việc Hiệp định về Việt Nam đã được ký tắt - những việc phải làm ngay”. Chỉ thị chủ trương công tác dân vận: “Hướng dẫn quần chúng hành động thiết thực cho Tổ quốc; làm cho mọi người suy nghĩ đúng, làm việc tốt, có lợi nhất cho đất nước, cho tập thể, dấy lên một phòng trào quần chúng sôi nổi, liên tục, đạt được những mục tiêu rõ ràng ngay từ ba tháng đầu năm 1973”12. Ngày 7-1-1975, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Hội nghị chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công tác dân vận để tập hợp được đông đảo quần chúng nổi dậy đánh những trận quyết định, “Nếu Mỹ lật Thiệu, thì nhanh chóng phát động quần chúng nổi dậy, đánh đổ ngụy quyền, xây dựng chính quyền cách mạng ở các cấp bên dưới, đấu tranh lập chính phủ liên hiệp bên trên”13.
Vận dụng quan điểm công tác dân vận phải xuất phát từ lợi ích của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong hoàn cảnh kháng chiến ở miền Nam, Trung ương Đảng mà trực tiếp là Trung ương Cục miền Nam luôn chú trọng công tác vận động quần chúng, vận động các giai cấp, các tầng lớp, các giới, như: tiểu tư sản, trí thức, công nhân, học sinh, sinh viên đấu tranh với các khẩu hiệu thiết thực: chống càn quét, bắn giết bừa bãi, chống bắt lính, chống văn hóa phẩm đồi trụy, xây dựng văn hóa dân tộc gắn với khẩu hiệu “Hòa bình - Dân chủ - Cơm áo - Hòa hợp dân tộc”. Tuyên truyền, giáo dục, vận động, gia đinh binh sĩ kêu gọi chồng, con, em trong hàng ngũ Việt Nam Cộng hòa buông súng về với gia đình; đấu tranh đòi giải quyết các quyền lợi ruộng đất. Qua đó, phát huy sức mạnh toàn dân thực hiện đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng, từng bước giành thắng lợi trong cuộc chiến giành đất, giành dân, xây dựng lực lượng cách mạng.
Đẩy mạnh công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn kháng chiến ở miền Nam, Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng luôn xác định công tác dân vận là nhiệm vụ, là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền và của các đoàn thể kháng chiến. Trung ương Cục tăng cường công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thông qua nhiều hình thức tổ chức khác nhau như “Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam”, “Lực lượng hòa giải và hòa hợp dân tộc”, “Mặt trận nhân dân cứu đói”, “Ủy ban đấu tranh đòi thả tù chính trị”… nhằm đoàn kết tất cả các lực lượng vào hàng ngũ đấu tranh rộng lớn, giáo dục ý thức cách mạng, củng cố niềm tin cho nhân dân và xây dựng cơ sở cách mạng, mở rộng phong trào kháng chiến của quần chúng nhân dân, ngăn chặn, làm thất bại các chính sách đàn áp, bóc lột của địch. Trong tháng 5 và 6-1971, tổ chức “Mặt trận nhân dân tranh thủ hòa bình” được thành lập ở Sài Gòn, đã tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân thành thị và nhanh chóng phát triển ra các thành phố, thị xã khác, đánh dấu bước phát triển mới của phong trào đấu tranh của nhân dân ta ở các đô thị chống chế độ thực dân mới của Mỹ.
Với đặc điểm địa bàn miền Nam đa dạng về dân tộc và tôn giáo, Trung ương Cục miền Nam và các cấp ủy đảng trên địa bàn luôn chú trọng công tác dân vận ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, đồng bào có đạo. Trong đó, đặc biệt quan tâm công tác vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo. Ngày 19-8-1971, Thường vụ Trung ương Cục miền Nam ra Chỉ thị “Tăng cường công tác vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo tích cực chống Mỹ - Thiệu”. Chỉ thị nêu rõ mục tiêu vận động đồng bào theo đạo Hòa Hảo trong tình hình mới là: đẩy mạnh hoạt động chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ đạo, vãn hồi hòa bình; vận động đồng bào đoàn kết, tương trợ nhau trong mọi hoạt động sản xuất, bảo vệ đời sống; thực hiện đoàn kết toàn dân, tích cực ủng hộ và tham gia Mặt trận Dân tộc giải phóng. Trung ương Cục miền Nam yêu cầu các tỉnh ủy, huyện ủy và các xã nơi có đồng bào theo đạo Hòa Hảo phải tiến hành chỉnh huấn lại công tác vận động tôn giáo. “Công tác vận động trên một triệu quần chúng tín đồ Hòa Hảo chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ đạo giành hòa bình là một vấn đề hết sức quan trọng và cấp bách”14.
Công tác dân vận có tác động sâu rộng đến mọi mặt của nhiệm vụ kháng chiến, như góp phần vào bảo vệ quần chúng cách mạng, xây dựng lực lượng, tăng cường thực lực đấu tranh chính trị, đấu tranh binh vận;…. Các cuộc đấu tranh chính trị của các tầng lớp nhân dân liên tục diễn ra; các vùng căn cứ kháng chiến không ngừng được mở rộng và giữ vững. Được sự giúp đỡ của nhân dân, “Bốn vạn bộ đội, thanh niên xung phong, dân công anh dũng ngày đêm mở đường phía Tây Trường Sơn, hoàn thành xây dựng “tuyến đường kín” từ phía tây Trị - Thiên đến Hạ Lào dài 1.200 km”15. Thanh niên khắp nơi hăng hái gia nhập các lực lượng vũ trang, các bến bãi đón nhận vũ khí, kỹ thuật được vận chuyển qua đường Hồ Chí Minh trên biển được tổ chức an toàn. Khả năng huy động hậu cần tại chỗ không ngừng được tăng cường. Riêng ở Mỹ Tho, đến cuối năm 1973, ta đã “giải phóng 10 xã và 50 ấp với khoảng 50 vạn dân, đưa 7.000 gia đình từ vùng địch về vùng ta”16. Phong trào đấu tranh tại các đô thị miền Nam đòi thi hành Hiệp định Paris, đòi dân sinh, dân chủ phát triển mạnh mẽ, phong trào đấu tranh chính trị đòi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức bắt đầu nhen nhóm trong các tôn giáo và đảng phái ở miền Nam. Thắng lợi toàn diện trong năm 1973 đã tạo đà và đặt nền tảng cho bước ngoặt của cuộc kháng chiến. Phong trào đấu tranh chính trị ở đô thị miền Nam phát triển đòi Mỹ và Việt Nam cộng hòa phải thi hành Hiệp định Paris. Phong trào học sinh, sinh viên phát triển mạnh với các chủ đề: “Đêm không ngủ”, “Đêm căm hờn”, “Đêm cầu nguyện cho hòa bình”, “Hát cho đồng bào tôi nghe”… Từ tháng 12-1974 đến tháng 3-1975, ở đồng bằng sông Cửu Long đã “thu hút 6.700.000 lượt người tham gia; huy động 24.900 lượt người đi dân công, vận tải, phá giao thông và 71.000 người xây dựng xã, ấp chiến đấu”17; “giải phóng hoàn toàn 51 xã, giải phóng cơ bản 42 xã, 414 ấp, 489.000 dân, trong đó riêng Quân khu miền Tây giải phóng hoàn toàn 37 xã, 287 ấp, 403.00 dân”18. Ta đã giành thắng lợi trong cuộc chiến giữ đất, giành dân, nhân dân giữ vững tinh thần đấu tranh, tạo điều kiện thuận lợi để triển khai kết hợp 3 mũi giáp công đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, tấn công địch trên cả 3 vùng chiến lược.
Những kết quả đó, có đóng góp của công tác dân vận của tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể quần chúng, trực tiếp là đội ngũ cán bộ dân vận.
Trong giai đoạn giành thắng lợi quyết định của cuộc kháng chiến chống Mỹ (1969-1975), các cấp bộ đảng ở miền Nam đã vận dụng sáng tạo, linh hoạt các nguyên tắc trong tiến hành công tác dân vận của chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần thực hiện đoàn kết dân tộc, tập trung sức mạnh vật chất, tinh thần, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kháng chiến, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cùng cả nước đi lên CNXH.
 



Ngày nhận: 29-12-2025; ngày thẩm định đánh giá 10-1-2026; ngày duyệt đăng 4-3-2026
1, 2, 3, 9. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011T. 5, tr. 335, 333, 326, 333

4. Sđd , T. 4, tr. 21
5, 10. Sđd, T. 15, tr. 612, 623
6. Sđd , T. 14, tr. 166-167
7, 8, Sđd, T.6, tr. 233 - 234,  233
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, H, 2004, T. 33, tr. 45
12. Sđd, T. 34, tr. 6
13. Sđd , T. 36, tr. 7
14. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2020, T. 15, tr. 562
15. Ban Dân vận Trung ương: Lịch sử công tác dân vận của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2010), Nxb CTQG, H, 2015, tr. 304
16. Viện Lịch sử quân sự: Lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), T. VIII - Toàn Thắng, Nxb CTQG, H, 2013, tr. 77
17.  PGS, TS Nguyễn Quý: Lịch sử Xứ ủy Nam Bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954-1975), Nxb CTQG, H, 2015, tr. 479
18. Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến: Lịch sử Nam Bộ kháng chiến, T. II (1954 - 1975), Nxb CTQG, H, 2012, tr. 868.
 
THÁI PHI
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
1. Một số nội dung cơ bản mang tính nguyên tắc trong tiến hành công tác dân vận theo tư tưởng Hồ Chí MinhThứ nhất, công tác dân vận phải xuất phát từ lợi ích của nhân dânChủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh vai trò to lớn và sức mạnh của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người từng khẳng định: “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”1. Người lại nói: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”2. Theo Người, trong tất cả các công việc của mình, mỗi cán bộ đều phải biết dựa vào dân. C&ocir

Tin khác cùng chủ đề

Những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng và đảng viên
Chuyển biến từ học tập và làm theo sang thực hành tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh - Yêu cầu khách quan trong kỷ nguyên mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh đi bầu cử Quốc hội
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người đại biểu Quốc hội mẫu mực
Bác Hồ với dân chủ và bài học về đạo đức cách mạng

Gửi bình luận của bạn