Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng cả về đối nội và đối ngoại. Trước âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp và những biến động phức tạp của tình hình quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm bảo vệ thành quả cách mạng và tranh thủ thời gian xây dựng, củng cố lực lượng về mọi mặt. Trong quá trình đó, nhiều trí thức yêu nước đã tham gia vào bộ máy chính quyền cách mạng và đóng góp tích cực cho hoạt động đối ngoại của Nhà nước. Trong số đó, Hoàng Minh Giám là một nhân vật tiêu biểu. Với tư duy nhạy bén và sự am hiểu về tình hình quốc tế và thông thạo ngoại ngữ, ông đã nhiều lần tham gia hỗ trợ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động ngoại giao quan trọng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặc biệt trong các cuộc tiếp xúc và đàm phán với đại diện nước ngoài. Thông qua việc phân tích các tư liệu lịch sử, bài viết làm rõ vai trò và những đóng góp của Hoàng Minh Giám với tư cách là một “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm đầu xây dựng nền ngoại giao cách mạng Việt Nam.

Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
1. Đặt vấn đề
Sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng. Ở trong nước, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói và nạn dốt hoành hành; ở ngoài nước, các thế lực đế quốc tìm cách can thiệp và thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị kế hoạch tái xâm lược. Trong bối cảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, đồng thời kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng. Việc triển khai đường lối đối ngoại này đòi hỏi sự tham gia của đội ngũ cán bộ, trí thức có trình độ, hiểu biết quốc tế và khả năng ngoại giao.
Trong số những trí thức yêu nước tham gia bộ máy chính quyền cách mạng thời kỳ đầu, Hoàng Minh Giám là một nhân vật tiêu biểu. Với vốn tri thức, khả năng ngoại ngữ và kinh nghiệm hoạt động xã hội, ông đã trở thành cộng sự gần gũi, nhiều lần tham gia hỗ trợ Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các hoạt động ngoại giao quan trọng của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Việc nghiên cứu vai trò của Hoàng Minh Giám không chỉ góp phần làm rõ những đóng góp của một trí thức yêu nước đối với cách mạng Việt Nam mà còn giúp hiểu rõ hơn những đặc điểm của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng chính quyền.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp nghiên lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện quá trình hoạt động của Hoàng Minh Giám trong bối cảnh lịch sử cụ thể của những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Phương pháp logic được sử dụng để phân tích và làm rõ vai trò và những đóng góp của Hoàng Minh Giám trong hoạt động ngoại giao của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như trong mối quan hệ công tác với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngoài ra, bài viết còn sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và đối chiếu tư liệu từ các công trình nghiên cứu, hồi ký, biên niên tiểu sử và các tài liệu lịch sử liên quan nhằm bảo đảm tính khách quan và khoa học của nội dung nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 
3.1. Vài nét về cuộc đời và hoạt động của Hoàng Minh Giám trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Hoàng Minh Giám (1904-1995) quê ở xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, tỉnh Hà Đông (nay là phường Đông Ngạc, thành phố Hà Nội). Sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng, giữ các chức vụ cao trong các triều đại phong kiến Việt Nam, cha ông là Phó bảng Hoàng Tăng Bí, một trong số những người sáng lập phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Trong thời gian học tại trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương khóa III, từ năm 1924 đến năm 1926, Hoàng Minh Giám tham gia tích cực trong các phong trào yêu nước. Sau khi tốt nghiệp, chính quyền thực dân Pháp đưa ông sang Phnômpênh, Campuchia giảng dạy tại Trường Lycée Sisowath nhằm cách ly ông với phong trào kháng Pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, ông vẫn tiếp tục tuyên truyền lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết giữa hai dân tộc Việt Nam - Campuchia và lòng căm thù thực dân Pháp. Vì vậy, chỉ sau hai năm, chính quyền thực dân đã yêu cầu ông về nước với lý do vô kỷ luật và dạy sai chương trình. Về Sài Gòn, ông được giới thiệu đến dạy ở một số trường tư thục, vừa dạy học vừa tham gia viết bài cho một số tờ báo có xu hướng tiến bộ ở Sài Gòn, đặc biệt là tờ báo Cloche Fêlée (Tiếng chuông rè), L’Annam (Nước Nam). Sau đó một thời gian, có kẻ tố cáo ông là người bị Pháp đuổi việc nên ông đã dời Sài Gòn ra Hà Nội. Tại Hà Nội, ông dạy học, rồi làm Phó Hiệu trưởng trường tư thục Gia Long của một người Pháp tên là Belet. Khi giảng dạy, ông luôn truyền tinh thần yêu nước và tìm cách mở mang sự hiểu biết cho học sinh của mình. Với tinh thần yêu nước, ông tích cực tham gia phong trào cách mạng của giới trí thức tại Hà Nội. Năm 1934, ông cùng nhiều trí thức yêu nước và tiến bộ như Phan Thanh, Đặng Thai Mai, Phạm Vũ Ninh… mở Trường Tư thục Thăng Long và ông là Hiệu trưởng. Đây là ngôi trường tập hợp nhiều trí thức yêu nước tiến bộ và có nhiều học sinh tích cực tham gia hoạt động yêu nước.
3.2. Hoàng Minh Giám với vai trò “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm 1945–1950
Trước khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, ngày 25-8-1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp đến báo cáo với Chủ tịch Ủy ban giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh về việc đổi tên Ủy ban Giải phóng dân tộc thành Ủy ban Cách mạng lâm thời (tức Chính phủ lâm thời) và danh sách một số trí thức được mời ra giúp Chính phủ, trong đó có Hoàng Minh Giám. Ngày 30-8-1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thừa ủy quyền Chủ tịch Chính phủ ký Sắc lệnh số 01-SL của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, bổ nhiệm Hoàng Minh Giám làm Đổng lý Văn phòng Bộ Nội vụ. Lúc đó Văn phòng Chính phủ và một số cơ quan, trong đó có Bộ Nội vụ chuyển trụ sở đến Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc. Vì hằng ngày thường gặp và tiếp xúc với tân Đổng lý Văn phòng nên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy Hoàng Minh Giám có những tính cách phù hợp với công tác ngoại giao, còn Hoàng Minh Giám thì thấy: “Cụ Hồ nhạy cảm vô cùng, thông minh tuyệt vời và có những hiểu biết cực kỳ sâu rộng” (Trần Đương, 2005. tr 173). Hoàng Minh Giám được giao nhiệm vụ Thư ký để ghi biên bản các cuộc họp Hội đồng Chính phủ. Ngoài ra, các cuộc tiếp xúc, đàm phán của Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại diện nước ngoài tại Hà Nội, Hoàng Minh Giám đều được tham dự. Chiều ngày 1-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời hai người trong phái đoàn quân sự Mỹ là A.Patti và Grélecki dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ, cùng dự có Hoàng Minh Giám. Trong cuộc nói chuyện với A.Patti, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho A.Patti biết các yêu cầu của Chính phủ và nhân dân Việt Nam là muốn có một nền độc lập, không có sự cai trị của Pháp, có quyền sống tự do trong gia đình các nước trên thế giới và muốn được các chuyên gia kỹ thuật Mỹ giúp thiết lập một số cơ sở công nghiệp. Sau đó, Hoàng Minh Giám nêu thêm ý kiến: Việt Nam cần và muốn quyền tự do buôn bán, các cảng tự do và vốn của nước ngoài, kể cả vốn của Pháp, nhưng trước hết là vốn của Mỹ và buôn bán với Mỹ.
Ngày 15-10-1945, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Sainteny- đại diện Chính phủ Pháp và Caput- đại diện Đảng Xã hội Pháp, Hoàng Minh Giám cũng có mặt trong buổi tiếp khách này. Đó là cuộc tiếp xúc mở đầu cho một chuỗi các cuộc gặp gỡ, thảo luận cả bí mật và công khai kéo dài 6 tháng về việc Pháp công nhận nền độc lập của Việt Nam.
Trước khi tiến hành Tổng tuyển cử bầu Quốc hội Khóa I, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Sainteny có những cuộc gặp riêng sau 20h, tại số 38 phố Lý Thái Tổ (Hà Nội). Những cuộc gặp riêng này, chỉ có Hoàng Minh Giám và Pignon cùng dự. Nội dung các cuộc gặp đều đi đến thỏa thuận chung, duy nhất có hai điểm bế tắc: Ta đòi Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập, Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ nằm trong một đất nước Việt Nam thống nhất nhưng phía Pháp chỉ công nhận ta là một quốc gia tự trị và Nam Kỳ là vùng đất thuộc địa của Pháp, vì vậy hai bên chưa thể ký một văn bản. Tháng 2-1946, Hiệp ước Hoa - Pháp được ký kết, theo đó Trung Hoa dân quốc rút quân về nước để quân Pháp thay thế. Hạm đội Pháp bắt đầu kéo ra Bắc.
Ngày 2-3-1946, tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa I, Hoàng Minh Giám được cử làm Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội, Thứ trưởng Bộ Nội vụ. Ngày 5-3-1946, hạm đội Pháp đến Vịnh Hạ Long, ngày 6-3, hạm đội Pháp tiến vào Cửa Cấm, Hải Phòng và bắn nhau với quân Trung Hoa dân quốc. Tình hình vô cùng căng thẳng, nếu không dàn xếp được sẽ bùng nổ chiến tranh. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì một cuộc họp đặc biệt của Hội đồng Chính phủ để hoàn chỉnh dự thảo một văn bản để ký kết với Pháp. Tại cuộc họp này, Hoàng Minh Giám được cử làm thư ký. Sau khi Hội đồng bàn bạc và nhất trí quyết định sẽ ký Hiệp định Sơ bộ với Pháp theo các điều kiện đã được thỏa thuận, Chủ tịch Hồ Chí Minh thông báo sẽ họp với phía Pháp vào 12 giờ trưa. Người đề nghị thay từ “độc lập” bằng từ “tự do” trong văn bản hiệp định. Phía Pháp đồng ý và hai bên thông qua bản dự thảo Hiệp định Sơ bộ. Vì tình hình khẩn trương, lễ ký Hiệp định Sơ bộ tiến hành hồi 16 giờ 30 phút ngày 6-3-1946, tại 38 Lý Thái Tổ. Khi làm thủ tục ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hoàng Minh Giám đọc bản dự thảo Hiệp định ghi bằng tiếng Pháp. Tham gia lễ ký về phía Pháp có Sainteny, Pignon, Caput, có sự chứng kiến của một số người nước ngoài có mặt ở Việt Nam như người Mỹ, Anh, Trung Hoa Dân quốc. Sau lễ ký, Sainteny nâng cốc chúc mừng, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: “Cảm ơn ông. Nhưng thật ra, tôi chưa vừa lòng. Ông biết đấy, tôi muốn nhiều hơn, tôi muốn nước tôi độc lập, và chắc chắn nước tôi sẽ độc lập”. (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, T. 3, tr. 147).


Lễ ký Hiệp định sơ bộ 6-3-1946. Từ trái sang phải:Chủ tịch Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Hoàng Minh Giám (đang đọc văn bản), Jean Sainteny, Leon Pignon và Luis Caput.

Lúc này, Cao ủy- Đô đốc D’Argenlieu đang ở Pháp, khi biết tin Hiệp định Sơ bộ được ký kết, ông ta phê phán gay gắt vì cho rằng như thế là sự đầu hàng của Pháp! Quay trở lại Sài Gòn, D’Argenlieu nói với Sainteny rằng, muốn có một cuộc nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Vịnh Hạ Long. Ngày 24-3-1946, một chiếc thủy phi cơ đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám, Vũ Đình Huỳnh và Sainteny ra Hạ Long và đã có một buổi đón tiếp diễn ra trên chiến hạm Emile Bertin: cờ quạt trang trí lộng lẫy, đông đảo quan chức văn võ và một đơn vị lính thủy xếp hàng chỉnh tề. Đô đốc D'Argenlieu mặc quân phục đại lễ, mời Chủ tịch Hồ Chí Minh xem cuộc "diễu binh" chào mừng của các chiến hạm Pháp. Xong tiết mục đón chào, D'Argenlieu mời quan khách dự tiệc trà, sau đó mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến phòng khách danh dự để đàm thoại về việc thi hành các điều khoản của Hiệp định Sơ bộ. Dự cuộc họp này chỉ có Hoàng Minh Giám.
Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu hai bên cần phải có một hội nghị để đàm phán về việc thi hành Hiệp định nhưng D'Argenlieu muốn trì hoãn, kéo dài thời gian, vin vào cớ phải chờ cuộc tổng tuyển cử sắp tổ chức ở Pháp, sau đó phải thảo luận trong Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng càng chờ đợi thì có nguy cơ chiến tranh nổ ra ở miền Bắc vì quân đội Nhật, quân đội Trung Hoa Dân quốc vẫn chưa rút khỏi Việt Nam, tình hình có thể trở nên rối ren. Tiếp đó, Hoàng Minh Giám phát biểu nhấn mạnh quan điểm: Không nên để cho dư luận trong công chúng Việt Nam mất tin tưởng vào thiện chí của phía Pháp và vào khả năng đi đến một giải pháp hòa bình, hữu nghị. Cuộc tranh luận kéo dài, cuối cùng hai bên đi đến quyết định: một hội nghị trù bị Việt - Pháp sẽ họp ở Đà Lạt. D'Argenlieu cũng tán thành ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cử một đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đi thăm hữu nghị Quốc hội Pháp. Cuộc hội đàm kết thúc lúc 17 giờ 30 phút. Trên chuyến bay về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh chăm chú nhìn xuống những vùng đất mà chiếc thủy phi cơ bay qua rồi quay lại nói khẽ với Hoàng Minh Giám: “Địa hình này không thuận lợi cho du kích chiến, nhưng có quyết tâm và biết cách đánh thì dù khó khăn thế nào, cũng vượt qua được” (Bác Hồ sống mãi với chúng ta, 2005. T. 2, tr 310).
Tháng 6-1946, Hoàng Minh Giám được cử tham gia phái đoàn của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà dự hội nghị Fontainebleau ở Pháp. Trong thời gian diễn ra cuộc đàm phán ở Hội nghị, Hoàng Minh Giám đã tham gia nhiều ý kiến sắc bén, thiết thực. Mặt khác, ông thường xuyên báo cáo mọi diễn biến và những vấn đề phát sinh trong quá trình đàm phán với Chủ tịch Hồ Chí Minh để Người có những chỉ đạo kịp thời đối với phái đoàn. Bên ngoài hội nghị, Hoàng Minh Giám cũng tận dụng những mối quen biết để tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của người Pháp đối với Việt Nam.
Tháng 7-1946, Đảng Xã hội Việt Nam được thành lập dưới sự vận động của Mặt trận Việt Minh và Đảng Cộng sản Đông Dương nhằm mục đích "tập hợp, đoàn kết mọi trí thức yêu nước và dân chủ". Ngay sau thành lập, Đảng Xã hội đã gia nhập Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Tuy đang ở Pháp nhưng Hoàng Minh Giám vẫn được đề cử vào ban lãnh đạo của Đảng, vì vậy ông còn đại diện cho Đảng Xã hội Việt Nam đến dự Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp và phát biểu về lập trường của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại hội nghị Fontainebleaau.
Khi cuộc đàm phán tại hội nghị bế tắc, phái đoàn Chính phủ Việt Nam về nước. Để cứu vãn nền hòa bình mong manh, tránh một cuộc chiến tranh xảy ra sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký với Pháp Tạm ước 14-9. Với thiện chí mong muốn duy trì kênh liên lạc, tiếp xúc trực tiếp với Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cử một phái đoàn đại diện Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ở lại Paris do Hoàng Minh Giám làm Trưởng đoàn.
Tháng 11-1946, Hoàng Minh Giám giữ chức Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam. Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Hoàng Minh Giám và cả gia đình cùng chuyển lên chiến khu. Được bố trí ở nhờ nhà một ông giáo tại Sơn Dương, Tuyên Quang, Hoàng Minh Giám tìm hiểu tập quán sinh hoạt và tín ngưỡng của đồng bào miền núi để sống gần gũi, tình cảm, quý mến mọi người. Ở cơ quan, tính ông xuề xòa, giản dị, đi công tác cùng sinh hoạt chung với các anh em khác. Trong công việc, ông luôn nghiêm túc, động viên, giúp đỡ anh em học thêm ngoại ngữ, cố gắng phấn đấu tiến bộ và nhắc nhở phải luôn đặc biệt thận trọng khi dự thảo văn kiện, công hàm ngoại giao.
Tháng 2-1947, sau khi chiếm Hà Nội, quân Pháp bắt đầu tấn công ra các vùng nông thôn để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì kêu gọi nhà cầm quyền Pháp và bộ máy quân đội Pháp ở Đông Dương ngừng chiến tranh, thực thi những thỏa thuận hòa bình mà hai Chính phủ đã ký kết. Tháng 3-1947, Hoàng Minh Giám đảm nhiệm chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao (Cổng Thông tin điện tử Bộ Ngoại giao, 2025. Lúc này Thủ tướng Pháp Ramadier tuyên bố trước Quốc hội Pháp rằng, không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng vũ lực. Do mâu thuẫn gay gắt với D’Argenlieu về quan điểm chính trị và vì tính hiếu chiến của viên đô đốc nên Ramadier quyết định bổ nhiệm Bollaert - một nhân vật cấp tiến, thành viên Hội đồng Kháng chiến của Pháp làm Cao ủy Đông Dương và đặt ra điều kiện ngừng bắn cho Chính phủ Việt Nam. Rồi Paul Mus, một nhà Đông Dương học đã được chọn làm đặc phái viên để chuyển những điều kiện này tới Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Từ cuối tháng 12-1946, Hoàng Minh Giám có một vài tiếp xúc với đại diện các nước: Mỹ, Anh, Ấn Độ và đại diện Hội chữ thập đỏ quốc tế nhằm giải quyết vấn đề tù binh Pháp. Đầu tháng 5-1947, Hoàng Minh Giám gặp đại diện quân sự Anh Wilson gần khu vực cầu Đuống. Sau mấy phút trao đổi ý kiến về vấn đề tù binh, đại diện quân sự Anh hỏi Hoàng Minh Giám có biết Paul Mus không? rồi nói: “Ông Paul Mus muốn gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi đến phía bên kia cầu Đuống, cách đây độ một km và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ đến ngay. Ông ấy nói rằng có một việc rất quan trọng” (Nguyễn Phương Ngọc2007, tr 133). Khi Paul Mus đến, ông ta nói rằng được Cao ủy Bollaert ủy nhiệm chuyển trực tiếp một thông điệp đến Chủ tịch Hồ Chí Minh nên muốn gặp Người và hẹn phía ta trả lời bằng điện đài (Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên, 2014, tr. 31).
Sau khi nghe Hoàng Minh Giám báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý gặp Paul Mus. Ngày 12-5-1947, vào lúc 22h, Người tiếp Paul Mus tại một gian phòng trong ngôi nhà không nguyên vẹn ở thị xã Thái Nguyên, do lúc đó đã thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Tại cuộc gặp này, do Paul Mus đã thuộc lòng bản thông điệp của Bollaert, nên đã nêu rõ ngay các điều kiện của Pháp: Quân đội Việt Nam phải giao nộp vũ khí; quân đội Pháp được hoạt động tự do trên đất nước Việt Nam; phía Việt Nam giao lại cho phía Pháp những người nước ngoài không phải là người Pháp đang ở cùng người Việt. Chủ tịch Hồ Chí Minh ôn tồn nhắc rằng Paul Mus đã từng tham gia kháng chiến chống Đức quốc xã trong Chiến tranh thế giới II và nói rõ: “Tôi nghe nói ông Bollaert cũng đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đưa ra để ngừng bắn có nghĩa gì? Có nghĩa là ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Ông Paul Mus, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không? Lại còn điều kiện liên quan đến những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân Pháp. Phải là một con người hèn mạt mới chấp nhận điều đó. Nếu tôi chấp nhận, tôi là kẻ hèn mạt. Và tôi nghĩ rằng trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt” (Đỗ Hoàng Linh, 2017, tr 167). Paul Mus gật đầu đồng tình và không nói đến nội dung thông điệp đó nữa. Sau khi Paul Mus ra về, mọi người còn ngồi nói chuyện, đến 1h sáng thì Chủ tịch Hồ Chí Minh nói với Hoàng Minh Giám: “Bây giờ chú về với tôi bằng xe comangca”. Đến đèo Khế thì trời sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bảo tất cả cùng đi bộ về cơ quan Bộ Ngoại giao vì đi xe ô tô máy bay địch dễ phát hiện. Hai ngày sau, Hoàng Minh Giám viết lại nội dung thông điệp của Bollaert và gửi tới Chủ tịch Hồ Chí Minh để tối ngày 15-5-1947, Người chủ tọa phiên họp Hội đồng Chính phủ thông báo về nội dung cuộc gặp với Paul Mus.
Từ năm 1950, Liên Xô, Trung Quốc và một số nước khác công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng chủ trương đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhằm tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, chi viện của quốc tế đối với cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam. Là trợ thủ đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1945-1950, Hoàng Minh Giám còn đóng góp tích cực trong việc kết hợp ngoại giao với quân sự, kết hợp đối nội và đối ngoại, xây dựng tổ chức bộ máy và đào tạo đội ngũ cán bộ của Bộ Ngoại giao. Ông là một trong những người đặt nền móng cho sự trưởng thành của ngành ngoại giao trong giai đoạn kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.
Sau khi Hiệp định Genève ký kết tháng 7-1954, Hoàng Minh Giám chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Văn hóa và tiếp tục tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm nhiều nước, ký kết nhiều văn kiện hợp tác văn hóa giữa Việt Nam và các nước. Là một nhà giáo yêu nước, không phải là đảng viên nhưng Hoàng Minh Giám được Chủ tịch Hồ Chí Minh tin cậy giao giữ chức lãnh đạo 3 bộ: Nội vụ, Ngoại giao, Văn hóa. Ông cũng là đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII. Từ năm 1976 đến năm 1981, ông là Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, tham gia các hoạt động của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Từ năm 1977, ông là Chủ tịch đầu tiên của Liên hiệp Các tổ chức Hữu nghị Việt Nam. Để ghi nhận những đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của Hoàng Minh Giám - người trợ lý ngoại giao xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước đã trao tặng Hoàng Minh Giám nhiều danh hiệu cao quý: Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương kháng chiến chống Pháp và kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất... cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của các Bộ, ngành trong nước và quốc tế. Tên của ông đã được đặt cho các đường phố ở Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Kết luận
Trong những năm đầu sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ và phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng cả về đối nội và đối ngoại, hoạt động ngoại giao giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ thành quả cách mạng. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng và sử dụng một đội ngũ trí thức yêu nước có năng lực, trong đó Hoàng Minh Giám là một trong những đại diện tiêu biểu.
Với vốn tri thức sâu rộng, khả năng ngoại ngữ và tư duy nhạy bén, Hoàng Minh Giám không chỉ hoàn thành tốt nhiệm vụ của một cán bộ trong bộ máy chính quyền cách mạng mà còn trở thành “trợ lý ngoại giao” đắc lực của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều sự kiện đối ngoại quan trọng. Ông đã trực tiếp tham gia, hỗ trợ trong các cuộc tiếp xúc, đàm phán với đại diện các nước, đóng góp ý kiến sắc bén, đồng thời thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, tinh thần độc lập dân tộc và tư duy ngoại giao linh hoạt.
Những hoạt động của Hoàng Minh Giám góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển nền ngoại giao cách mạng Việt Nam trong giai đoạn đầu, đồng thời phản ánh rõ nét chủ trương đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc trọng dụng trí thức, phát huy sức mạnh của đội ngũ này trong sự nghiệp cách mạng. Nghiên cứu về Hoàng Minh Giám không chỉ giúp làm sáng tỏ vai trò của một cá nhân tiêu biểu mà còn góp phần nhận diện những đặc điểm cơ bản của nền ngoại giao Việt Nam thời kỳ đầu xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
 
Tài liệu tham khảo
Bác Hồ sống mãi với chúng ta. (2005)Nxb Chính trị quốc gia. Tập 2, tr. 310
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Thái Nguyên. (2014). Bác Hồ với Thái Nguyên. Nxb Thời Đại
Cổng Thông tin điện tử Bộ Ngoại giao. (2025). Bộ trưởng Hoàng Minh Giám (từ 03/1947 đến 09/1954)https://mofa.gov.vn/tin-chi-tiet/chi-tiet/bo-truong-hoang-minh-giam-tu-031947-den-091954--4901-167.html
Đỗ Hoàng Linh. (2017). Xin chúc chủ tịch dũng cảm” Đặc san thông tin tư liệu Khu di tích Phủ Chủ tịch, số tháng 5, tr. 167
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. (2016). Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử. Nxb Chính trị quốc gia 2016. Tập 3, tr. 147
Nguyễn Phương Ngọc. (2007). Paul Mus và tác phẩm "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến”” Thông tin xã hội học số 3/99, tr 133
Trần Đương. (2005). Bác Hồ với nhân sĩ trí thức. Nxb Thông Tấn 2005, tr. 173.
ĐỖ HOÀNG LINH
Nguyên Phó Giám đốc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Email: linhkdt@gmail.com
1. Đặt vấn đềSự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, chính quyền cách mạng non trẻ phải đối mặt với nhiều khó khăn nghiêm trọng. Ở trong nước, nền kinh tế kiệt quệ, nạn đói và nạn dốt hoành hành; ở ngoài nước, các thế lực đế quốc tìm cách can thiệp và thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị kế hoạch tái xâm lược. Trong bối cảnh đó, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ngoại mềm dẻo, linh hoạt nhằm tranh thủ các điều kiện quốc tế thuận lợi, đồng thời kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựng, củng cố lực lượng cách mạng. Việc triển khai đường lối đối ngoại này đòi

Tin khác cùng chủ đề

Vang mãi anh hùng ca thống nhất đất nước
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV - Bước đột phá trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng
Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số” - Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn hiện nay
Kỷ niệm 51 năm Giải phóng tỉnh Khánh Hòa (4-1975 - 4-2026): ​​​​​​​Nhớ những ngày tháng Tư lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời bước ngoặt quyết định trong tiến trình lịch sử của dân tộc
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (24-2-1930 - 24-2-2026): Những người thắp lửa đầu tiên cho Đảng bộ tỉnh

Gửi bình luận của bạn