Đại hội I (1935) của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số”. Đây là một văn kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết không chỉ thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với vấn đề dân tộc, giải quyết vấn đề dân tộc mà còn là kim chỉ nam cho công tác dân vận, góp phần quan trọng vào việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và vẫn còn giá trị tham khảo đối với công tác dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số” - Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn hiện nay
Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số” - Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn hiện nay
 
1. Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số”
Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra tại Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935. Đại hội được triệu tập trong bối cảnh Đảng vừa được khôi phục hệ thống tổ chức và đứng trước yêu cầu cấp bách củng cố lực lượng, xác định đường lối đấu tranh phù hợp với tình hình mới. Đại hội đã thảo luận và thông qua nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết “về vận động công nhân”, Nghị quyết “về vận động nông dân”, Nghị quyết “về vận động binh lính”, Nghị quyết “về về vận động phụ nữ”, Nghị quyết “về vận động thanh niên”, Nghị quyết “về công tác phản đế liên minh” và Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số”,...
Trong đó, Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số”, Đảng cho rằng, các dân tộc thiểu số của Việt Nam có khoảng 1 triệu người, sống rải rác ở khắp các vùng Bắc, Trung, Nam như: Thổ, Mường, Nùng, Mèo, Mán, Thái, Dao, Lô Lô, Chàm, v.v.. Tuy điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội mỗi vùng miền, mỗi dân tộc khác nhau nhưng nhìn chung về kinh tế, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn là “một bộ phận hệ thống kinh tế trong toàn xứ Đông Dương, hệ thống bóc lột của đế quốc phong kiến”. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 70) Đồng bào bị sưu cao, thuế nặng, cuộc sống hết sức khó khăn, nợ nần chồng chất và không có cơ hội vươn lên. Về chính trị, chính quyền thực dân thi hành chính sách chia để trị, gây chia rẽ, hận thù giữa các dân tộc: “Đế quốc giao một phần quyền chính trị cho bọn vua quan, tù trưởng, quan lang, lý hào để bóc lột nhân dân lao động”(Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. 70); “Đế quốc Pháp lại còn dùng chính sách chia rẽ lao động các dân tộc nên còn cho bọn quan lại An Nam tới các xứ, các vùng dân tộc thiểu số thống trị một cách ác nghiệt, dã man” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 70). Đồng thời, thực dân Pháp còn tổ chức ra những đảng phái quốc gia cải lương dưới quyền bảo hộ của Pháp “để lừa gạt quần chúng”(Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 70). Về quân sự, chính quyền thực dân “đem lính An Nam tới đóng các vùng dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 70)  để sẵn sàng trấn áp sự phản kháng của đồng bào.
Từ nhận định, đánh giá như trên, Nghị quyết đề ra những chủ trương, đường lối cơ bản về công tác dân tộc thiểu số nhằm tập hợp, đoàn kết các lực lượng, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc.
Thứ nhất, đoàn kết, thống nhất các dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng. Nghị quyết cho rằng, tình trạng áp bức, bóc lột nặng nề về kinh tế và các chính sách thâm độc về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của thực dân Pháp đã gây ra sự bất bình đẳng, nghèo đói và lạc hậu của cả xứ Đông Dương nói chung, Việt Nam nói riêng. Do vậy, các dân tộc thiểu số đã sớm nhận biết, tự nguyện, kiên cường, bền bỉ đấu tranh chống lại chính sách áp bức, bóc lột của thực dân Pháp xâm lược: “Các dân tộc thiểu số không phải nay mới bắt đầu ra tranh đấu chống đế quốc Pháp. Cuộc bất phục luôn luôn kế tiếp từ lúc đế quốc Pháp chiếm Đông Dương” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 71). Đặc biệt trong cuộc đấu tranh này “công nông người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn có tính chất tổ chức chu đáo và theo những khẩu hiệu cộng sản rất rõ rệt”; “… các dân tộc thiểu số chẳng những đã vào hàng ngũ Đảng Cộng sản và các đoàn thể cách mạng khác do Đảng chỉ đạo mà thôi, mà họ đã giữ một địa vị rất quan trọng trong các cơ quan chỉ đạo từ hạ cấp cho tới thượng cấp” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 71).  
Các dân tộc thiểu số Việt Nam tuy số lượng ít, nhưng đây là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, có truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng cao. Những đóng góp của đồng bào trong các phong trào đấu tranh đã cho thấy họ mang trong mình tinh thần tự tôn dân tộc, khao khát được giải phóng khỏi ách chiếm đóng, sẵn sàng cho sự vận động cách mạng. Năm 1931, đồng bào người dân tộc thiểu số ở Công Tum đã hăng hái ủng hộ Xôviết vận động ở Nghệ An. Đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng Nai thượng, nổi dậy chống đế quốc xâm chiếm đất và quyền tự trị. Đặc biệt là cuộc đấu tranh đấu của người Thổ, người Nùng ở Cao Bằng, Lạng Sơn,… (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 71). Trên cơ sở đó, Đảng đã đề ra các khẩu hiệu nhằm tranh thủ, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số cùng đứng lên đấu tranh giành độc lập. Sau khi đánh đổ được ách xâm lược của đế quốc Pháp,  Đảng cũng chủ trương xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử, kỳ thị dân tộc, đồng thời bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số. Các dân tộc thiểu số “được dùng tiếng mẹ đẻ của mình trong sinh hoạt chính trị, kinh tế và văn hoá của mình” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). tr. 73).
Thứ hai, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, các tổ chức quần chúng cách mạng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Nghị quyết xác định vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu số trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc: “lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ phận của cuộc thế giới cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 73). Để thực hiện nhiệm vụ giải phóng dân tộc và đánh đổ chế độ phong kiến, bên cạnh việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ trương của Đảng đối với công tác dân tộc, cần đẩy mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số để vận động đồng bào tích cực tham gia các tổ chức cách mạng và đặc biệt là tham gia vào hàng ngũ của Đảng. Nghị quyết chỉ rõ: “Trung ương, các xứ uỷ và các tỉnh uỷ (trong những tỉnh có dân tộc thiểu số) phải cử ra một số người chuyên môn nghiên cứu và chỉ đạo công tác vận động trong các dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 74); “Phải nỗ lực tổ chức quần chúng lao động các dân tộc ấy vào Đảng, Công hội, Nông hội, Phản đế liên minh, v.v., cho đông” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 74). Đối với những địa phương có dân tộc thiểu số “thì phải thiết pháp đem các phần tử hăng hái hơn hết trong … dân tộc thiểu số vào choán đại đa số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 74).
Trong bối cảnh năm 1935, chủ trương trên của Đại hội I của Đảng đã tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều nơi, tổ chức đảng, tổ chức quần chúng cách mạng được củng cố xây dựng và phát triển, tạo điều kiện thuận lợi đối với việc xây dựng các vùng căn cứ cách mạng, đặc biệt là ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên.
Thứ ba, xây dựng khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó có vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu sốĐảng khẳng định trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tinh thần đoàn kết dân tộc là yếu tố then chốt dẫn đến thắng lợi. Các phong trào đấu tranh cần được phối hợp chặt chẽ, tăng cường giáo dục và tuyên truyền về tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc để đồng bào hiểu rõ tầm quan trọng của sự đoàn kết và hợp tác trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp. Trong quá trình thực hiện đoàn kết đấu tranh vì mục tiêu chung, yếu tố địa phương chủ nghĩa, những hành động miệt thị là trở ngại lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, khiến cho sự đoàn kết và hợp tác giữa các địa phương bị suy yếu, tạo điều kiện cho thực dân Pháp chia rẽ và cai trị. Nghị quyết chỉ rõ: “sự miệt thị công tác trong các dân tộc thiểu số là một lầm lỗi chính trị rất to lớn, kết quả sự miệt thị ấy sẽ làm cho Mặt trận phản đế lại yếu đuối, sẽ ngăn trở cuộc cách mạng Đông Dương mau thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 73). Để khắc phục tình trạng này, cần xác định nhất quán lợi ích của quốc gia được đặt lên trên lợi ích của địa phương. Lịch sử đã chứng minh rằng chỉ khi toàn dân tộc đồng lòng đứng lên, chúng ta mới có thể đánh bại kẻ thù xâm lược và giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Do vậy, nhiệm vụ của chúng ta cần phải: “chống địa phương chủ nghĩa trong các đồng chí người dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 75); “cần phổ biến và nâng cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin trong dân chúng lao khổ người dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 75).
Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cách mạng cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn xác định vai trò quan trọng của công tác tuyên truyền, coi đây là vũ khí sắc bén để tập hợp lực lượng, đoàn kết các dân tộc. Đối với công tác dân tộc thiểu số, việc sử dụng ngôn ngữ của đồng bào trong công tác tuyên truyền có ý nghĩa vô cùng quan trọng, đồng bào dễ dàng tiếp nhận những thông điệp tuyên truyền của Đảng. Nghị quyết yêu cầu: “… các tỉnh có người dân tộc thiểu số phải dùng đủ phương pháp mà xuất bản báo chương, truyền đơn và các tài liệu khác bằng chữ dân tộc thiểu số” (Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Tập 5. tr. 74). Thực hiện chủ trương này, nhiều cán bộ, đảng viên của Đảng hoạt động ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số của một số địa phương như Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Thái Nguyên đã dùng tiếng dân tộc để nói chuyện, trao đổi với đồng bào, giải thích vạch trần chính sách “chia để trị” và thuế nặng, sưu cao của thực dân Pháp. Qua đó, đã khơi dậy tinh thần yêu nước của đồng bào các dân tộc, hình thành nhiều cơ sở cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi đối với việc xây dựng căn cứ cách mạng trong những năm sau đó.
Ngoài ra, Nghị quyết còn đề cập đến các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, như: phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế...

2. Ý nghĩa lịch sử của Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số” đối với phong trào đấu tranh cách mạng và giá trị đối với công tác dân tộc hiện nay
Một là, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên tinh thần tôn trọng, đoàn kết, giúp nhau cùng phát triển. Nghị quyết đã góp phần xóa bỏ sự chia rẽ, hận thù dân tộc do thực dân Pháp gây ra, tạo sự đoàn kết, gắn bó giữa các dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để đấu tranh giành độc lập, tự do. Việc tập hợp được đông đảo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã làm tăng sức mạnh của cách mạng, tạo điều kiện thuận lợi cho đấu tranh giải phóng dân tộc. Đây thực chất cũng là sự cụ thể hóa tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Người cho rằng, đoàn kết trước tiên là nhằmchống lại âm mưu chia rẽ để áp bức các dân tộc của thực dân. Khi có sức mạnh đoàn kết, các dân tộc cùng hợp sức lại, thì sẽ tạo thành sức mạnh vô địch để chiến thắng kẻ thù. Muốn vậy, các dân tộc cần phải “thương yêu, tôn trọng và giúp đỡ” nhau để cùng tiến bộ; đồng thời dẹp trừ những tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Người đã chỉ rõ một bài học cơ bản, xuyên suốt: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi18 (Hồ Chí Minh (2011). Tập 3.  tr. 256).
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng đã tập hợp, đoàn kết và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, làm nên những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã khẳng định quan điểm nhất quán: “Đoàn kết là truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước”. (Đảng Cộng sản Việt Nam (2007). Tập 53. tr. 72). Mặc dù các dân tộc thiểu số trên khắp miền đất nước có những khác biệt về kinh tế, văn hóa, phong tục,… nhưng trên quan điểm đoàn kết, phát triển, Đảng cho rằng, cần hết sức tôn trọng các giá trị, bản sắc riêng của các dân tộc như phát huy nội lực về kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý có hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số” (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020)a.
Hai là, khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần cách mạng của đồng bào dân tộc thiểu số: Thông qua nội dung Nghị quyết đã động viên, cổ vũ đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia tích cực vào các phong trào đấu tranh, góp phần quan trọng làm nên những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Đồng bào các dân tộc thiểu số là bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Việc khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần cách mạng trong đồng bào chính là củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nên sức mạnh tổng hợp để bảo vệ và xây dựng Tổ quốc. Những nỗ lực đó đã phát huy sức mạnh nội sinh của từng cộng đồng dân tộc thiểu số, đóng góp thiết thực vào sự phát triển chung của đất nước; khuyến khích đồng bào tích cực tham gia bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia; nuôi dưỡng niềm tự hào về bản sắc văn hóa riêng, đồng thời chủ động bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam; nâng cao cảnh giác trước âm mưu chia rẽ của các thế lực thù địch, từ đó chủ động tham gia đấu tranh bảo vệ sự ổn định chính trị và sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc.
Ba là, Nghị quyết có vai trò đặt nền móng cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Qua thực tiễn vận động, tập hợp đồng bào dân tộc thiểu số tham gia đấu tranh, Đảng đã đúc kết được những kinh nghiệm quý báu về vấn đề dân tộc, từ đó hình thành nên những quan điểm, chủ trương, đường lối đúng đắn về công tác dân tộc. Những kinh nghiệm thực tiễn trong đấu tranh là cơ sở để Đảng và Nhà nước xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc. Quá trình vận động đồng bào dân tộc thiểu số tham gia đấu tranh đã đào tạo, bồi dưỡng được đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có năng lực, uy tín, am hiểu tình hình thực tế, góp phần quan trọng vào việc thực hiện chính sách dân tộc. Những chủ trương, đường lối của Nghị quyết đã được Đảng và Nhà nước ta kế thừa, phát triển trong các giai đoạn cách mạng tiếp theo, góp phần giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh.
Bốn làNghị quyết đã để lại nhiều định hướng quý báu cho công tác dân vận của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đó là: 1) Nắm vững quan điểm giai cấp, quan điểm dân tộc; luôn đặt lợi ích của giai cấp công nhân và dân tộc lên trên hết, đồng thời tôn trọng quyền bình đẳng của các dân tộc. 2) Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, trong đó có vai trò quan trọng của các dân tộc thiểu số. 3) Chú trọng công tác vận động quần chúng; gần gũi, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của đồng bào, vận động họ tham gia tích cực vào các phong trào cách mạng. 4) Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, uy tín, đặc biệt là cán bộ là người dân tộc thiểu số. 5) Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; tôn trọng và giữ gìn bản sắc văn hóa của từng dân tộc, không được kỳ thị hay phân biệt đối xử.
Từ khi Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số” ra đời (năm 1935) đến nay, nội dung của Nghị quyết đã được Đảng vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong các giai đoạn cách mạng, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, qua đó từng bước hình thành và hoàn thiện đường lối, chính sách dân tộc đúng đắn, nhất quán, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Đảng đã lãnh đạo đồng bào các dân tộc thiểu số tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, góp phần làm nên những chiến thắng lịch sử. Sau khi đất nước thống nhất, Đảng đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần và bảo vệ vững chắc an ninh vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Việt Nam có 54 dân tộc, với quy mô dân số không đồng đều, có 6 dân tộc trên 1 triệu người, 14 dân tộc dưới 10.000 người, trong đó có 5 dân tộc dưới 1.000 người (Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La). (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020)b. Hầu hết các dân tộc thiểu số sinh sống ở miền núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa và tập trung chủ yếu ở một số tỉnh khu vực miền Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung, Tây Nam bộ. Cùng với việc hoạch định chính sách chung cho cả nước, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm xây dựng chính sách cho vùng dân tộc thiểu số và miền núi, luôn xác định công tác dân tộc, đoàn kết dân tộc có vị trí chiến lược quan trọng của cách mạng Việt Nam. Đảng đã hoàn thành nhiều nghị quyết nhằm tăng cường, củng cố, mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới như: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội  năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011); Nghị quyết 07-NQ/TW, ngày 17-11-1993 của Bộ Chính trị “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận dân tộc thống nhất”; Nghị quyết 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; Kết luận số 62-KL/TW ngày 8-12-2009 của Bộ Chính trị “về tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội”, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 12-3-2003, “về “phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24-11-2023, “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”.
Nghị quyết của Đại hội I (1935) về công tác trong các dân tộc thiểu số là một văn kiện mang tầm nhìn chiến lược sâu sắc, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng về giải quyết triệt để vấn đề dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp nhau cùng phát triển. Nghị quyết không chỉ có giá trị lịch sử to lớn khi đặt nền móng cho chính sách dân tộc của Đảng trong các thời kỳ cách mạng, góp phần quan trọng vào thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn giữ nguyên giá trị thực tiễn sâu sắc trong giai đoạn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo những tư tưởng cốt lõi của Nghị quyết Đại hội I cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc chính là cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam, xây dựng một nước Việt Nam độc lập, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đảng Cộng sản Việt Nam (1999). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 5 Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội.  
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập. Tập 3. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội.  
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020) a. Nghị quyết số 120/2020/QH14, ngày 19-6-2020, Phê duyệt chủ trương đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế -  xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030,  https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Dau-tu/Nghi-quyet-120-2020-QH14-phe-duyet-Chuong-trinh-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-vung-dong-bao-dan-toc-447375.aspx
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2020) b: Cổng thông tin điện tử https://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx?ItemID=44660, ngày đăng 4-4-2020

 

TS NGUYỄN THỊ HÀ
ThS ĐINH CÔNG TUYẾN
Viện Dân tộc và Tôn giáo, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Viện Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
  1. Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số”Đại hội I của Đảng Cộng sản Đông Dương diễn ra tại Ma Cao (Trung Quốc) từ ngày 27 đến ngày 31-3-1935. Đại hội được triệu tập trong bối cảnh Đảng vừa được khôi phục hệ thống tổ chức và đứng trước yêu cầu cấp bách củng cố lực lượng, xác định đường lối đấu tranh phù hợp với tình hình mới. Đại hội đã thảo luận và thông qua nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết “về vận động công nhân”, Nghị quyết “về vận động nông dân”, Nghị quyết “về vận động binh lính”, Nghị quyết “về về vận động phụ nữ”, Nghị quyết “về vận động thanh niên”, Nghị quyết “về công tác phản đế liên minh” và Nghị quyết “về công t

Tin khác cùng chủ đề

Kỷ niệm 51 năm Giải phóng tỉnh Khánh Hòa (4-1975 - 4-2026): ​​​​​​​Nhớ những ngày tháng Tư lịch sử
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời bước ngoặt quyết định trong tiến trình lịch sử của dân tộc
Kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng bộ tỉnh Khánh Hòa (24-2-1930 - 24-2-2026): Những người thắp lửa đầu tiên cho Đảng bộ tỉnh
Từ Cao Bằng đến Fontainebleau: Bác Hồ và cuộc trở về của bốn trí thức Việt kiều
Toàn quốc kháng chiến và bài học về phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng trong giai đoạn hiện nay

Gửi bình luận của bạn