Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sự kiện trọng đại trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu thắng lợi của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong thắng lợi vẻ vang ấy, đội ngũ trí thức đã đóng vai trò quan trọng, là lực lượng tiên phong truyền bá tri thức, tư tưởng cách mạng, tập hợp, lãnh đạo quần chúng góp phần làm nên thắng lợi to lớn của dân tộc. Ngày nay, trong bối cảnh thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi mau chóng, trước những yêu cầu và nhiệm vụ mới, việc phát huy nguồn lực trí tuệ, vai trò tiên phong, sáng tạo của đội ngũ trí thức được xác định là yêu cầu cấp thiết, góp phần phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao sức mạnh đất nước, khẳng định vị thế quốc gia.

Một số đóng góp của đội ngũ trí thức trong Cách mạng Tháng Tám và phát huy vai trò của trí thức vào sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
Một số đóng góp của đội ngũ trí thức trong Cách mạng Tháng Tám và phát huy vai trò của trí thức vào sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
1. Vai trò của đội ngũ trí thức trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trong suốt quá trình vận động cách mạng, đội ngũ trí thức Việt Nam vừa là lực lượng trực tiếp tham gia cách mạng, vừa là những người truyền bá tư tưởng tiến bộ, đem lại ánh sáng trí tuệ, niềm tin cho nhân dân, dân tộc. Trí thức Việt Nam tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tuy số lượng chưa nhiều, xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau. Trong đó, nhóm trí thức từ Triều đình Huế - “cổ học” (trí thức Nho giáo) đi theo cách mạng có: Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe, Đặng Văn Hương, Hồ Đắc Điềm, Ưng Úy, Bùi Kỷ, Phan Anh…; nhóm trí thức “Tây học”, có: Dương Quảng Hàm, Đặng Thai Mai, Vũ Đình Hòe, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Cao Xuân Huy, Nguyễn Gia Trí, Nguyễn Phan Chánh, Nguyễn Đỗ Cung, Phan Kế Anh, Bùi Xuân Phái, Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Nguyễn Xuân Sanh, Dương Đức Hiền, Hoàng Minh Giám1... Trong số trí thức này, nhiều người có những đóng góp xuất sắc cho sự nghiệp cách mạng và giải phóng dân tộc như: Nguyễn Thái Học, Trường Chinh, Tôn Quang Phiệt, Võ Nguyên Giáp… Đa số trí thức thời kỳ này có nhân cách, học vấn uyên bác, hiểu biết sâu rộng, sáng tạo trên các lĩnh vực văn hóa, lịch sử, triết học, khoa học - kỹ thuật và là lực lượng tiên phong tiếp nhận tư tưởng cách mạng, tiến bộ.
Trong thế hệ trí thức cách mạng, trí thức yêu nước đầu tiên nổi bật : Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Tôn Quang Phiệt, Nguyễn Xiển, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Văn Tố, Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Huyên, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Đặng Văn Ngữ, Trần Đại Nghĩa, Trần Hữu Tước, Lương Định Của; các văn nghệ sĩ, trí thức như: Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn, Tố Hữu, Xuân Diệu, Cù Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Hoàng Xuân Hữu; các nhà sử học, triết học: Đào Duy Anh, Cao Xuân Huy, Trần Đức Thảo, Trần Văn Giàu... 2.
 Thấu hiểu tình cảnh đất nước bị thực dân đô hộ, trí thức không chỉ nhận thức sâu sắc nỗi đau dân tộc mà còn ý thức được trách nhiệm của mình đối với sự nghiệp giải phóng quê hương, đất nước. Nhiều trí thức đã lựa chọn, chủ động tiếp nhận và truyền bá tư tưởng cách mạng, hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam; lan tỏa tinh thần yêu nước, truyền bá khát vọng độc lập, tự do, dân chủ đến với quần chúng nhân dân. Dù con đường lựa chọn khác nhau, song các tổ chức, nhóm trí thức đó đều có chung tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, tinh thần đấu tranh, sẵn sàng tranh đấu, hy sinh để giành lại nền độc lập, tự do cho đất nước.
Trong giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa, trí thức đã góp phần hoạch định đường lối, tổ chức lực lượng và lãnh đạo phong trào một cách hiệu quả. Tiêu biểu cho thế hệ trí thức yêu nước cách mạng đầu tiên như Trường Chinh - Tổng Bí thư của Đảng, đã có những cống hiến lớn về lý luận, tổ chức hoạt động thực tiễn, đặc biệt là trong việc vận động quần chúng và chủ động chuẩn bị lực lượng, chớp thời cơ, giành chính quyền; Võ Nguyên Giáp, một trí thức trẻ, giáo viên giảng dạy lịch sử, nhà báo - tham gia cách mạng và trở thành nhà chiến lược quân sự, góp phần quan trọng, tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang giành thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Đông đảo trí thức yêu nước, cách mạng tham gia Mặt trận Việt Minh, Hội truyền bá quốc ngữ, các hội học sinh, sinh viên, trí thức yêu nước ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn… là lực lượng nòng cốt vận động các tầng lớp nhân dân tham gia cách mạng, khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức yêu nước đồng thời là các nhà cách mạng, đã trở thành lực lượng nòng cốt, tổ chức tập hợp, dẫn dắt các lực lượng xã hội, nhiệt thành tham gia tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở các địa phương trong cả nước, nhất là các đô thị, góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 19453.
Đội ngũ trí thức trưởng thành trong thời kỳ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã thể hiện sâu sắc tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; luôn gắn bó với sự nghiệp cách mạng do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Về vai trò của trí thức trong sự nghiệp cách mạng mới của đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Kiến thiết cần có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài càng ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”4. Ngày 22-6-1947, trong bài trả lời báo chí, Người cũng nêu rõ nêu rõ quan điểm của Chính phủ: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”5.
Xuất thân từ nhiều giai cấp, tầng lớp xã hội, phần lớn trí thức đều có mối quan hệ mật thiết với nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân, thấu hiểu nỗi đau của dân tộc mất nước và khát vọng đấu tranh giành lại nền độc lập, tự do. Bằng hoạt động lao động sáng tạo, tinh thần yêu nước, lòng nhiệt huyết với phong trào cách mạng, trí thức đã có những đóng góp quan trọng trong công cuộc đấu tranh giành chính quyền, củng cố chính quyền cách mạng, đồng thời góp phần xây dựng chủ trương, chính sách và những nguyên tắc, thiết chế căn bản cho hoạt động, sự vận hành của một mô hình nhà nước mới.
 
2. Phát huy vai trò của của đội ngũ trí thức trong sự phát triển đất nước hiện nay
Thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam hiện nay
Một là, tiếp nối truyền thống yêu nước, tinh thần khoa học của đội ngũ trí thức thời kỳ Cách mạng Tháng Tám và trong công cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, sau khi đất nước thống nhất và trải qua 4 thập niên tiến hành công cuộc Đổi mới, trong bối cảnh đất nước đang bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng và chuyển biến mạnh mẽ của kỷ nguyên mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý, điều hành của Nhà nước, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”, Nghị quyết số 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 của Ban chấp hành Trung ương “về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”,… đội ngũ trí thức Việt Nam ngày càng thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm với đất nước và có những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Nhìn lại các thành tựu nghiên cứu, có thể thấy: “Nhiều công trình, sản phẩm khoa học, công nghệ, văn hóa, tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị cao của đội ngũ trí thức góp phần quan trọng cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”6. Cùng với đó: “Trí thức là lực lượng đại diện cho trí tuệ, tài năng của nhân dân và dân tộc, là một trong những nguồn lực và động lực quan trọng nhất mang lại sự đột phá và phồn vinh cho đất nước… Trong lịch sử cách mạng Việt Nam, trí thức và nhà khoa học luôn là lực lượng tiên phong, trong việc khai sáng dân trí, xây dựng lý luận cách mạng và ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ vào thực tiễn. Các trí thức tiêu biểu đã truyền bá tư tưởng yêu nước, tiến bộ và cách mạng, tạo tiền đề quan trọng cho phong trào đấu tranh giành độc lập”7.
Hai là, đội ngũ trí thức ngày càng đông đảo, có trình độ học vấn cao và chuyên môn sâu. “là lực lượng đi đầu trong nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ, hội nhập quốc tế; được quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, đầu tư nguồn lực, cơ sở vật chất, tạo môi trường làm việc thuận lợi”8. Nhờ đó, số lượng trí thức trong các ngành, lĩnh vực không ngừng gia tăng. Hiện nay, ở Việt Nam có hơn 60.000 người đang làm trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ. Đến năm 2024, số người có học vị tiến sĩ gần 29.000 người, 101.000 thạc sĩ. Trong 51 năm (1976-2025) có 17.199 nhà giáo, nhà khoa học được công nhận phó giáo sư, giáo sư. Phần lớn giới trí thức tập trung ở các thành phố lớn, viện hàn lâm và các đại học hàng đầu. Hiện nay, người Việt Nam đang sống ở gần 100 quốc gia, khu vực lãnh thổ, trong đó có khoảng 400.000 người có trình độ cao. Có khoảng 6.000 tiến sĩ, hàng trăm nhà khoa học được cộng đồng khoa học quốc tế đánh giá cao với hàng trăm nghìn người có trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, chuyên gia cao cấp và nhiều nhà khoa học đạt trình độ quốc tế. Hiện nay, Việt Nam có gần 7.000 giáo sư, phó giáo sư đang giảng dạy, nghiên cứu ở các trường đại học, học viện, viện nghiên cứu9.
Nhìn chung, đội ngũ trí thức Việt Nam được đào tạo bài bản trong nước và ở nước ngoài, hoạt động trên nhiều lĩnh vực then chốt như: khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa - nghệ thuật, kinh tế, quốc phòng, an ninh10… “Trí thức Việt Nam là lực lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xây dựng kinh tế tri thức, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”11. Nhiều người đã và đang giữ vai trò chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp lớn. Chính nhờ sự tăng trưởng về số lượng gắn liền với việc không ngừng nâng cao về chất lượng, trình độ mà đội ngũ trí thức ngày nay có khả năng đáp ứng tốt hơn những yêu cầu, mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ ba, trí thức Việt Nam có tinh thần yêu nước, trách nhiệm xã hội và khát vọng cống hiến mạnh mẽ. Trong lịch sử, trí thức Việt Nam luôn gắn bó cuộc sống, sự nghiệp cá nhân với vận mệnh dân tộc, sẵn sàng dấn thân vào những lĩnh vực gian khó, đòi hỏi sự hy sinh, thách thức vì sự nghiệp chung và vì sự trường tồn, phát triển của dân tộc. Ngày nay, truyền thống tốt đẹp ấy vẫn được phát huy mạnh mẽ. Nhiều trí thức đang tích cực tham gia các chương trình, dự án nghiên cứu, có nhiều sản phẩm khoa học, công nghệ sáng tạo; tham gia tư vấn, phản biện chính sách; đóng góp ý kiến, tham gia xây dựng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; tích cực tuyên truyền chủ trương, đường lối, lan tỏa giá trị, quan điểm phát triển mới của Đảng, Nhà nước; đồng thời đấu tranh bảo vệ các giá trị nền tảng, cốt lõi của thiết chế chính trị, hành chính và bản sắc của lịch sử, văn hóa Việt NamĐội ngũ trí thức không chỉ tập trung giảng dạy, nghiên cứu khoa học mà còn tham gia sâu rộng vào đời sống xã hội, thể hiện rõ vai trò là “người dẫn đường trí tuệ” cho quần chúng; góp phần định hướng, tạo động lực cho các kế hoạch, chiến lược phát triển xanh, bền vững; bảo vệ chủ quyền, an ninh đất nước; giá trị, đặc trưng, di sản văn hóa dân tộc; khẳng định vai trò, vị thế quốc gia.
Thứ tư, đội ngũ trí thức ngày càng hội nhập mạnh mẽ với quốc tế. Trong thời đại công nghệ mới và chuyển đổi số, nhiều trí thức Việt Nam đã chủ động tiếp cận, làm chủ các tri thức, công nghệ gốc, công nghệ lõi, công nghệ tiên tiến trên của giới. Họ không chỉ học hỏi mà còn khẳng định được vị thế trên trường quốc tế thông qua các công trình nghiên cứu, hợp tác khoa học, tham dự hội thảo khoa học quốc tế, các hoạt động chuyên môn mang tính toàn cầu. Nhiều nhà khoa học, chuyên gia đã tích cực tham gia thuyết giảng tại các trường đại học, trung tâm nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo uy tín trên thế giới. Sự hiện diện của trí thức Việt Nam trong các tổ chức học thuật quốc tế, các công trình đăng tải trên tạp chí khoa học có uy tín, cũng như các giải thưởng, danh hiệu quốc tế,… là minh chứng rõ nét cho năng lực hội nhập và đóng góp của trí thức Việt Nam với giới trí thức khu vực châu Á và thế giới.
Thứ năm, đội ngũ trí thức có tính đa dạng và gắn bó mật thiết với thực tiễn. Ngoài lực lượng trí thức trong các cơ sở nghiên cứu và đào tạo, hiện nay còn có nhiều trí thức hoạt động trong lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, công nghệ, khởi nghiệp, phát triển cộng đồng… Điều này tạo nên tính linh hoạt và khả năng kết nối giữa khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo với nhu cầu thực tiễn của đất nước. Nhiều thành tựu, mô hình ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ số, đổi mới sáng tạo đã tiệm cận được với trình độ của thế giới, các thành tựu về y tế đã đưa Việt Nam vào trong nhóm 10 quốc gia đầu tiên trên thế giới thực hiện đúng lộ trình “Mục tiêu thiên niên kỷ”. Khoa học và công nghệ, năng lực ứng dụng công nghệ mới đã thúc đẩy tiến trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế đất nước, đưa Việt Nam trở thành nhóm nước xuất khẩu hàng đầu thế giới. Đóng góp của trí thức trên lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật đã góp phần tạo nên nhân tố, diện mạo mới của văn hóa, nghệ thuật Việt Nam, tiếp tục khẳng định bản sắc, giá trị và định vị vai trò, vị trí của Việt Nam trên bản đồ Di sản văn hóa thế giới.
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật, đội ngũ trí thức Việt Nam vẫn còn một số hạn chế: mặc dù số lượng trí thức gia tăng nhanh chóng trong nhiều lĩnh vực, song “cơ cấu, số lượng, chất lượng đội ngũ trí thức chưa hợp lý, thiếu hụt chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực quan trọng”12, “Số công trình, sáng chế được công bố trên thế giới còn ít, chưa có nhiều sáng tạo, sáng kiến mang tính bứt phá; chưa có nhiều công trình sáng tạo lớn; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ngang tầm khu vực và thế giới”13; cơ cấu đội ngũ trí thức còn mất cân đối giữa các vùng miền, lĩnh vực; tình trạng “lãng phí chất xám”, “bạc màu chất xám”, “chảy máu chất xám”, mặt khác “một bộ phận trí thức chưa nhận thức đầy đủ vai trò đối với phát triển đất nước, còn thụ động, trông chờ, ngại bày tỏ chính kiến”14; “chưa tạo được môi trường thuận lợi động viên trí thức chủ động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ, truyền thụ kiến thức, tư vấn, phản biện xã hội”15.
Một số giải pháp phát huy vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam trong kỷ nguyên mới của dân tộc
Một là, hoàn thiện cơ chế tuyển dụng, đãi ngộ và sử dụng trí thức. Để phát huy tiềm năng, trí tuệ và sức sáng tạo của đội ngũ trí thức Việt Nam trong kỷ nguyên mới, một trong những giải pháp quan trọng và cấp thiết là “hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách đối với đội ngũ trí thức”16, nhằm đánh giá đúng, “trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao”17, sớm ban hành và tổ chức thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển đội ngũ trí thức trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Về tuyển dụng, cần cải cách mạnh mẽ phương thức tuyển chọn đội ngũ trí thức trong khu vực công cũng như trong hệ thống các cơ quan nghiên cứu, đào tạo, doanh nghiệp nhà nước và tư nhân. Việc tuyển dụng trí thức phải đặt tiêu chí năng lực thực tế, phẩm chất khoa học, sáng tạo và hiệu quả công việc lên hàng đầu, thay vì chỉ dựa trên bằng cấp hay kinh nghiệm hành chính.
Đồng thời, cần xây dựng các cơ chế tuyển chọn mở, công khai, có sự cạnh tranh thực chất và thu hút được các trí thức trẻ, trí thức Việt Nam ở nước ngoài trở về cống hiến; loại bỏ tình trạng hình thức, cục bộ, ưu tiên người thân quen trong tuyển dụng, bổ nhiệm, bố trí công việc. Về chính sách đãi ngộ, cần chuyển mạnh từ cách tiếp cận “bình quân chủ nghĩa” sang mô hình đãi ngộ theo hiệu quả, giá trị cống hiến và mức độ khan hiếm của nguồn chuyên gia đầu ngành, kiến trúc sư trình độ cao. Trí thức cần được hưởng mức thu nhập tương xứng với năng lực, đóng góp của họ. Việc xây dựng thang bảng lương đặc thù, cơ chế thưởng công trình nghiên cứu, sáng tạo khoa học, ứng dụng thực tiễn hiệu quả là rất cần thiết và nên sớm được thực hiện.
Cùng với đócác tổ chức khoa học cần quan tâm đến các điều kiện làm việc, nhà ở, chăm sóc y tế, môi trường sáng tạo và phát triển cá nhân. Bên cạnh đó, cần “có cơ chế đặc biệt về nhập quốc tịch, sở hữu nhà, đất, thu nhập, môi trường làm việc nhằm thu hút, trọng dụng, giữ chân các nhà khoa học đầu ngành, các chuyên gia, các “tổng công trình sư” trong và ngoài nước có khả năng tổ chức, điều hành, chỉ huy, triển khai các nhiệm vụ trọng điểm quốc gia về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển công nghệ trí tuệ nhân tạo và đào tạo nguồn nhân lực”18; “tôn vinh, biểu dương, khen thưởng kịp thời, xứng đáng các nhà khoa học, nhà sáng chế, các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân có thành tích trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trân trọng từng phát minh, sáng chế, cải tiến kỹ thuật, sáng kiến nâng cao hiệu quả công tác, hiệu suất công việc, dù là nhỏ nhất”19. Về sử dụng trí thức, cần đảm bảo nguyên tắc “đúng người, đúng việc”, phát huy tối đa năng lực chuyên môn và sở trường của từng cá nhân. Trí thức phải được trao quyền, được tin tưởng và được đặt vào những vị trí có thể phát huy năng lực sáng tạo, độc lập tư duy và khả năng phản biện. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế đánh giá kết quả công việc minh bạch, khách quan, phản ánh đúng thực chất đóng góp của trí thức, để từ đó có các quyết định điều động, bổ nhiệm, khen thưởng phù hợp.
Hai là, xây dựng môi trường làm việc thuận lợi cho nghiên cứu, sáng tạo. Để đội ngũ trí thức có thể phát huy tối đa vai trò của mình, một trong những giải pháp then chốt là xây dựng một môi trường làm việc thuận lợi cho nghiên cứu, sáng tạo - nơi mà mọi điều kiện về vật chất, cơ chế và tinh thần đều hướng đến việc khuyến khích, bảo vệ và nuôi dưỡng sự sáng tạo, tôn trọng tự do sáng tạo. Chú trọng xây dựng môi trường làm việc thuận lợi hiện đại và đồng bộ, bảo đảm điều kiện vật chất cần thiết, tiên tiến cho hoạt động nghiên cứu. Có cơ chế quản lý và điều hành linh hoạt, khuyến khích tự chủ và sáng tạo, có quyền đề xuất và triển khai các đề tài nghiên cứu phù hợp với chuyên môn, xu hướng và nhu cầu xã hội, giảm thiểu các thủ tục hành chính, tránh can thiệp hành chính mang tính áp đặt vào hoạt động chuyên môn của trí thức, tạo điều kiện để họ toàn tâm, toàn ý cống hiến cho khoa học và đổi mới sáng tạo. Xây dựng môi trường mà ở đó sự trung thực khoa học, tinh thần dấn thân vì lợi ích cộng đồng, ý thức trách nhiệm xã hội của nhà khoa học được khích lệ và đề cao. Phát triển các mô hình hợp tác công - tư trong nghiên cứu khoa học; thúc đẩy kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu và khu vực sản xuất - kinh doanh; tạo cầu nối để trí thức có thể vừa làm khoa học, vừa tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn của đất nước. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, định hướng và bảo trợ cho hệ sinh thái đó phát triển theo hướng lấy đổi mới sáng tạo làm trung tâm.
Ba là, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế của đội ngũ trí thức. Nâng cao năng lực hội nhập quốc tế cho đội ngũ trí thức trở thành yêu cầu tất yếu nhằm phát huy hiệu quả vai trò của họ trong sự nghiệp phát triển đất nước. Việc xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, bồi dưỡng năng lực hội nhập cho trí thức cần được triển khai một cách hệ thống, bài bản và gắn liền với thực tiễn phát triển của đất nước. Khuyến khích học tập ngoại ngữ, đào tạo chuyên sâu về các lĩnh vực chuyên môn có khả năng cạnh tranh quốc tế, đồng thời đầu tư cho các chương trình trao đổi học giả, tu nghiệp, nghiên cứu ở nước ngoài. Thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực chất lượng cao. Tạo môi trường thuận lợi để trí thức người Việt Nam ở nước ngoài có thể quay về đóng góp cho quê hương. Xây dựng các nền tảng kết nối số, cơ sở dữ liệu mở, mạng lưới chuyên gia hỗ trợ, chia sẻ thông tin, phối hợp nghiên cứu và truyền thông kết quả khoa học ra quốc tế.
Bốn là, phát huy trách nhiệm xã hội và tinh thần yêu nước của trí thức. Để “phát huy vai trò, trách nhiệm của đội ngũ trí thức, nhất là các nhà khoa học giỏi, chuyên gia đầu ngành, nhân tài, trí thức trẻ nhằm khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc”20, trên cơ sở đó, “phát huy tinh thần đoàn kết, sức mạnh tổng hợp của đội ngũ trí thức Việt Nam góp phần tích cực cho sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”21, trước hết cần tăng cường giáo dục lý tưởng, đạo đức, nhân cách và bản lĩnh chính trị cho trí thức, nhất là trí thức trẻ. Các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, cơ quan khoa học công nghệ và hội nghề nghiệp cần có các chương trình, hoạt động cụ thể nhằm khơi gợi ý thức công dân, lòng tự hào dân tộc và khát vọng cống hiến trong từng trí thức, từng nhà khoa học. Bên cạnh đó, cần tạo ra môi trường xã hội thuận lợi để trí thức thể hiện vai trò và phát huy năng lực. Khi tiếng nói trí thức được tôn trọng, kết quả nghiên cứu được lắng nghe và ứng dụng, những sáng kiến vì cộng đồng được ủng hộ và bảo vệ, thì trách nhiệm xã hội và tinh thần yêu nước của trí thức sẽ ngày càng được củng cố và lan tỏa. Đặc biệt, bản thân mỗi trí thức cũng cần tự ý thức rõ vai trò của mình trong sự phát triển của đất nước. Sử dụng trí tuệ của mình một cách chính trực, vì lợi ích lâu dài của đất nước, vì tương lai phát triển của cộng đồng. Mỗi trí thức cần sống trung thực, có chính kiến, dũng cảm bảo vệ cái đúng, dám dấn thân vào những lĩnh vực khoa học khó, lĩnh vực mới, tiên phong, đồng thời làm tốt công tác dự báo, nghiên cứu dự báo để có những định hướng, quyết sách đúng, kịp thời.
Có thể thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần yêu nước của trí thức đã được phát huy, đóng góp vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, một sự kiện không chỉ mang tầm vóc dân tộc mà còn có ý nghĩa quốc tế sâu sắc. “Có thể khẳng định, thành quả cách mạng, đặc biệt là thành tựu vĩ đại đạt được của đất nước sau 40 năm đổi mới có đóng góp đặc biệt quan trọng của đội ngũ trí thức, nhà khoa học. Từ việc tham mưu mở đường cho đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hong kinh tế - xã hội, từng bước hội nhập với nền kinh tế quốc tế, cung cấp cơ sở khoa học, đề xuất ý tưởng, phản biện xã hội, tổ chức thực thi, sáng tạo ra các ý tưởng, sáng chế, sản phẩm góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đã để lại dấu ấn đậm nét về cống hiến, đóng góp của đội ngũ trí thức, nhà khoa học nước ta”22. Đây cũng là bài học quý giá cho thời đại hiện nay, khi đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức, đội ngũ trí thức cần tiếp tục phát huy vai trò, trách nhiệm của mình trong việc phát huy truyền thống yêu nước, những giá trị linh thiêng của Kỷ nguyên độc lập để cống hiến, sáng tạo, góp phần xây dựng một nước Việt Nam cường thịnh, phồn vinh.




Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
** Trường Đại học Y Hà Nội
1. Nguyễn Văn Kim: Giáo dục Việt Nam - Chuyển đổi mô hình và tác nhân quốc tế. Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 176 (237), 2025, tr.160.
2. Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Khánh Bật, Lê Văn Tích,…Phạm Văn Đồng tiểu sử, Nxb CTQG, H, 2007, tr. 99-182.
3. Nguyễn Quang ÂnDương Trung QuốcTạ Ngọc Liễn: Lịch sử và Văn hóa Việt Nam - Những gương mặt trí thức, Nxb Văn hóa Thông tin, H, 1998, tr. 318 - 363
4. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 4, tr. 534
5. Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 5, tr. 184
6, 8, 12, 14, 15, 16, 20, 21. Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị lần thứ Tám, Ban Chấp hành Trung Đảng Khóa XIII “về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới”, http://tulieuvankien.dangcongsan.vn, truy cập ngày 4-2-2026
7. https://baochinhphu.vn/print/phatbieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-tri-thuc-nha-khoa-hoc-224123013 2621815.htm, truy cập ngày 4-2-2026
9. Nguyễn Thị Vân Nga: Phát triển nền kinh tế tri thức trong kỷ nguyên mớiBáo Nhân Dân điện tử, ngày 3-3-2026, truy cập ngày 4-2-2026
10. Duy Thị Hải Hường: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về trọng dụng trí thức và việc xây dựng, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Lịch sử Đảng điện tử, ngày 30-11-2024, truy cập ngày 4-2-2026
11. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Khóa X, Nxb CTQG, H, 2008, tr. 90
13. https://baochinhphu.vn/print/phatbieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-tri-thuc-nha-khoa-hoc-102241230132621815.htm, truy cập ngày 4-2-2026, truy cập ngày 4-2-2026
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T1, tr. 167
18, 19. Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22-12-2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”http://tulieuvankien.dangcongsan.vn, truy cập ngày 4-2-2026
22. https://baochinhphu.vn/phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-tai-buoi-gap-mat-can-bo-lao-thanh-cach-mang-nguoi-co-cong-gia-dinh-chinh-sach-tieu-bieu-102250421153328424.htm, truy cập ngày 4-2-2026.

GS, TS NGUYỄN VĂN KIM*
TS TRỊNH THỊ HƯỜNG**

1. Vai trò của đội ngũ trí thức trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945Trong suốt quá trình vận động cách mạng, đội ngũ trí thức Việt Nam vừa là lực lượng trực tiếp tham gia cách mạng, vừa là những người truyền bá tư tưởng tiến bộ, đem lại ánh sáng trí tuệ, niềm tin cho nhân dân, dân tộc. Trí thức Việt Nam tham gia Cách mạng Tháng Tám năm 1945 tuy số lượng chưa nhiều, xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau. Trong đó, nhóm trí thức từ Triều đình Huế - “cổ học” (trí thức Nho giáo) đi theo cách mạng có: Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Phạm Khắc Hòe, Đặng Văn Hương, Hồ Đắc Điềm, Ưng Úy, Bùi Kỷ, Phan Anh…; nhóm trí thức “Tây học”, có: Dương Quảng Hàm, Đặng Tha

Tin khác cùng chủ đề

Yêu cầu về năng lực của chính quyền cấp xã hiện nay
Một số rào cản khi xây dựng văn hóa công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở tại Việt Nam*
Từ lá phiếu lịch sử năm 1946 đến khát vọng hùng cường
Tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong vận hành chính quyền địa phương hai cấp hiện nay
Phát huy vai trò của Trường Chính trị tỉnh Khánh Hòa trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ cấp xã ở tỉnh Khánh Hòa hiện nay

Gửi bình luận của bạn