Ngày 15-10-2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII công bố toàn văn Dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Trên cơ sở đó, bài viết nêu những quan điểm, chủ trương của Đảng trong Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV; phân tích tóm tắt những kết quả nghiên cứu bước đầu, đề xuất một số khuyến nghị chiến lược và tư vấn chính sách về vấn đề phát huy lợi thế thể chế, tiến hành thành công cuộc cách mạng tinh gọn hệ thống chính trị và bộ máy quản trị quốc gia. Đây là những ý kiến góp ý của tác giả và một số nhà khoa học đối với Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng

Phát huy lợi thế về thể chế, xây dựng nhà nước kiến tạo dẫn dắt phát triển và bộ máy quản trị quốc gia hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả
Phát huy lợi thế về thể chế, xây dựng nhà nước kiến tạo dẫn dắt phát triển và bộ máy quản trị quốc gia hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả
1. Đặt vấn đề
Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng (viết tắt là Dự thảo Báo cáo chính trị) ghi nhận một trong những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam đã đạt được trong nhiệm kỳ khóa XIII là: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, có mặt nổi bật, đột phá chưa từng có”1; “cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá”2. Bên cạnh đó, Dự thảo Báo cáo chính trị cũng chỉ ra một số hạn chế trong lĩnh vực công tác này: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn có mặt hạn chế. Sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp có mặt chưa rõ ràng, thiếu chặt chẽ; hiệu lực, hiệu quả kiểm soát quyền lực nhà nước chưa cao. Hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp với thực tiễn; tổ chức thi hành pháp luật còn chưa tốt, cải cách thủ tục hành chính vẫn còn nhiều vướng mắc. Việc tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của người dân và doanh nghiệp tại một số bộ, ngành, chính quyền địa phương còn chậm, chưa thoả đáng, gây nên những bức xúc kéo dài”3.
Trên cơ sở đánh giá như vậy, Dự thảo Báo cáo chính trị đã đúc kết bài học quan trọng: “giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”4
Về phương hướng, Dự thảo Báo cáo chính trị xác định: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước”, đặc biệt là: “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm sự đồng bộ, hài hoà giữa tăng trưởng và phát triển”; “tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là rất quan trọng”5. Cùng với xây dựng và hoàn thiện, đồng bộ thể chế, “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, coi đó là “nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”6.
Đặc biệt, lần đầu tiên trong Dự thảo văn kiện Đại hội của Đảng đề ra nhiệm vụ như một phương hướng chủ đạo trong xây dựng và hoàn thiện thể chế: “Xây dựng hệ thống quản lý nhà nước, quản trị quốc gia hiện đại, hiệu quả, phục vụ và kiến tạo phát triển, xây dựng chính phủ số, chính quyền số. Nâng cao hiệu quả liên kết vùng; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, uỷ quyền một cách khoa học, hợp lý, đi đôi với nâng cao trách nhiệm, gắn với bảo đảm nguồn lực, phù hợp với năng lực thực hiện nhiệm vụ; tăng cường kiểm tra, giám sát; bảo đảm sự quản lý thống nhất của Trung ương, đồng thời phát huy vai trò chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của địa phương”7.
Trên lộ trình khẩn trương chuẩn bị những điều kiện cần thiết nhất, cơ bản nhất để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Đảng đã xác định những bất cập về thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, và vì vậy, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy tổ chức, sắp xếp lại giang sơn, tái cấu trúc hệ thống chính trị chính là “đột phá khẩu” chiến lược phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Chỉ trong một thời gian ngắn, nhiều chuyển biến chưa từng có đã diễn ra trên khắp đất nước, từ trung ương tới địa phương. Thực tế, từ ngày 1-7-2025, một hệ thống điều hành và quản trị quốc gia mới đã được xác lập và bước đầu cho thấy rõ nhiều điểm ưu việt, được nhân dân tin tưởng và ủng hộ mạnh mẽ, tuy cũng còn nhiều khó khăn cần phải vượt qua và cả những hạn chế cần phải khắc phục.
Tại buổi gặp gỡ đại diện các nhà khoa học tham dự Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ VII (tháng 10-2025)8, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phân tích ngắn gọn về “lợi thế thể chế” của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, coi đó như một nguồn lực phát triển cần được phát huy cao độ.
Ngay từ khi Đảng và Nhà nước Việt Nam công bố những chủ trương mới, kiên quyết, khẩn trương tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy theo hướng nâng cao “hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, đội ngũ chuyên gia Việt Nam học ở trong nước và nước ngoài đã dành cho công cuộc này sự quan tâm rất mạnh mẽ và tích cực. Nhiều nghiên cứu đã được công bố ngay từ cuối năm 2024, không chỉ bày tỏ sự đồng thuận và ủng hộ rất mạnh mẽ đối với chủ trương này mà còn hiến kế, đưa ra những khuyến nghị khoa học để góp phần giúp cho Đảng và Nhà nước Việt Nam hoàn thiện và triển khai nhanh chóng, hiệu quả cuộc cách mạng có ý nghĩa như “đột phá khẩu” đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới.
Đây không chỉ là sự gặp gỡ về mối quan tâm học thuật, mà như Tổng Bí thư Tô Lâm đã cho rằng:“Việt Nam không chỉ là đối tượng nghiên cứu, mà đã trở thành một đối tác trí tuệ của các nhà Việt Nam học”9.

2. Một số ý kiến tư vấn chính sách và khuyến nghị của các nhà Việt Nam học
Tiếp cận cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy tổ chức của hệ thống chính trị Việt Nam từ góc độ khoa học chính trị và xã hội học, TS Thaveeporn Vasavakul (Thái Lan) khẳng định đó thực sự là “một cuộc cách mạng từ bên trên”, do Đảng Cộng sản Việt Nam chủ động tiến hành, nhằm đưa lại những biến đổi căn bản và nhanh chóng về thể chế chính trị cũng như là toàn bộ cấu trúc kinh tế - xã hội của đất nước. Bà cho rằng việc nhận thức đúng bản chất và ý nghĩa của công cuộc này rất quan trọng, rằng đó là một cuộc cách mạng toàn diện và có tác động lâu dài, chứ không phải là một cuộc cải cách có tính chất chỉnh sửa, cục bộ. Nhận thức như vậy sẽ chi phối tư duy chiến lược về phương thức tổ chức và vận hành của toàn bộ hệ thống quản trị và điều hành đất nước sau khi hoàn thành cơ bản việc sắp xếp lại bộ máy, tái cấu trúc các không gian phát triển10.
Tiếp cận vấn đề theo hướng liên ngành sử học - khoa học chính trị, GS,TS Lê Quân và GS,TS Phạm Hồng Tung (Đại học quốc gia Hà Nội) cho rằng: đóng vai trò then chốt nhất, quyết định nhất đối với sự thành công của cuộc cách mạng này là công tác xây dựng Đảng11Phải xây dựng cho được một đảng tiên phong đủ năng lực lãnh đạo dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên mới, đúng như Hồ Chí Minh đã khẳng định từ gần 100 trước: “Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thì thuyền mới chạy”12.
Với vai trò là hạt nhân lãnh đạo toàn bộ công cuộc đổi mới, vươn mình của đất nước trong kỷ nguyên mới, Đảng Cộng sản Việt Nam phải bảo đảm được năng lực và tính chất tiên phong trên ba phương diện chính: 1) Tiên phong về lý luận, tức là phải đề ra được Chiến lược phát triển rút ngắn của Việt Nam trong kỷ nguyên mới; 2) Tiên phong về tổ chức, tức là tự mình phải chỉnh đốn, tinh gọn, nâng cao năng lực của “một đảng cầm quyền”, để lãnh đạo việc tái cấu trúc lại hệ thống chính trị Việt Nam theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả; 3) Phát triển được đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo tiên phong về năng lực và phẩm chất, trong đó năng lực cốt lõi nhất là năng lực đổi mới sáng tạo.
Chia sẻ quan điểm trên, GS,TS Vũ Minh Khương (Đại học Quốc gia Singapore), người đã dành nhiều năm nghiên cứu về công cuộc đổi mới thể chế và chính sách ở Việt Nam khẳng định: Đổi mới thể chế chính là “bước đột phá chiến lược” để đưa Việt Nam lên một quỹ đạo phát triển cao hơn13. Trên cơ sở khảo nghiệm, so sánh các mô hình nhà nước kiến tạo phát triển, GS,TS Vũ Minh Khương cho rằng: trên thế giới hiện có hai xu hướng: Xu hướng Mỹ - Tây Âu thì đổi mới hệ thống quản trị quốc gia theo kiểu “nhà nước kiến tạo thông lệ” (Regular State). Theo đó, nhà nước cũng là một chủ thể kiến tạo phát triển, tôn trọng cạnh tranh nhưng không phó mặc nền kinh tế và toàn bộ quá trình phát triển bền vững cho “bàn tay vô hình”, nhưng nhà nước hạn chế sự can thiệp vào đời sống nền kinh tế, xã hội và văn hóa, chỉ tạo điều kiện và định hướng sự phát triển thông qua việc xác lập hành lang thể chế là chủ yếu. Trong khi đó, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc và một số quốc gia khác lại lựa chọn mô hình “nhà nước kiến tạo dẫn dắt phát triển” (Developmental State), không chỉ “sửa chữa” và “tạo hành lang” về thể chế, mà quản trị nguồn lực, dùng đòn bẩy chính sách để tập trung, điều hướng nguồn lực vào điểm đột phá, tạo chuyển biến mạnh trong phát triển bền vững của đất nước.
Các chuyên gia về Việt Nam học của quốc tế và Việt Nam đều khuyến nghị Việt Nam nên tham khảo kinh nghiệm từ mô hình này để có thể vận dụng sáng tạo, phát huy và tối ưu hóa lợi thế thể chế của chế độ “một đảng cầm quyền”, quy tụ và tạo nên nguồn xung lực phát triển mạnh mẽ, hướng tới tăng trưởng hai con số trong nhiều năm14. Khuyến nghị được các chuyên gia đưa ra và đặc biệt nhấn mạnh rằng Đại hội XIV của Đảng cần khẳng định dứt khoát lựa chọn phát triển và vận hành hệ thống quản trị quốc gia theo mô hình nhà nước phát triển (Developmental State) để kiến tạo dẫn dắt đất nước trong kỷ nguyên mới.
Tham khảo rộng rãi kinh nghiệm quốc tế và căn cứ vào đòi hỏi khách quan, thực tiễn Việt Nam, GS,TS Vũ Minh Khương đề xuất 10 “sáng kiến cải cách thể chế”, thực chất là 10 giải pháp đột phá, giàu tính khả thi để bảo đảm cho hệ thống quản trị quốc gia Việt Nam vận hành tối ưu nhất, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả (10 “breakthrough initiatives”), đó là: 1) Thành lập Trung tâm điều hành Chiến lược, thực chất là Trung tâm điều hành quản trị quốc gia để kết nối, điều phối và chỉ huy toàn bộ công cuộc đổi mới, vươn mình của đất nước. 2) Hoạch định Chiến lược phát triển quốc gia đến năm 2045 một cách khoa học, khả thi cho toàn quốc và cho từng tỉnh/thành phố, lĩnh vực. 3) Dựa trên nền tảng trí tuệ nhân tạo (AI) tiến hành một cuộc cải cách pháp lý tầm vóc đối sánh toàn cầu, bảo đảm đánh giá và sửa đổi hệ thống văn bản pháp lý theo 6 tiêu chí: đơn giản, rõ ràng; hiệu năng, hiệu lực; kết quả cụ thể; nhất quán, ổn định; tầm nhìn chiến lược; và tác động lan tỏa. 4) Áp dụng mô hình quản trị dự án đối với đầu tư công để bảo đảm chất lượng, kiểm soát tiến độ và ngăn ngừa chi phí vượt mức, đồng thời nâng cao năng lực nhà nước thông qua học hỏi kinh nghiệm chuyên môn toàn cầu. 5) Tổ chức bộ máy chính quyền đồng bộ hóa và chuyên nghiệp hóa. Cốt yếu là thiết kế lại quy trình ra quyết định (decision-making processes) để kết nối rõ ràng trách nhiệm với kết quả, giảm thiểu sự phân mảnh, đứt gãy và chồng chéo chức năng. 6) Đổi mới cách đánh giá công chức, viên chức theo kết quả đầu ra và vận dụng công nghệ đánh giá khách quan. 7) Chuyển đổi số toàn diện và nâng cao năng lực vận dụng AI cho tất cả cán bộ8) Thành lập các Khu thương mại tự do linh hoạt (FTZs) trên cả nước. Có thể thí điểm trước ở các thành phố trực thuộc Trung ương nhằm thu hút FDI thế hệ mới, công nghệ cao, áp dụng phương thức quản trị tốt, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hình thành các đại học đẳng cấp quốc tế. Sau đó, các FTZs có thể được nhân rộng ở bất cứ địa phương nào có nhu cầu và điều kiện phù hợp với những ưu đãi tối đa về thể chế để thực sự thành những đầu tàu tăng trưởng. 9) Phát động “Sáng kiến VN2045: Địa phương trước hết, Quốc gia tiến bộ, Doanh nghiệp đi đầu, Lĩnh vực chuyển đổi” (Launch the VN2045 Initiative: "Local First, National Progress; Enterprises Lead, Sectors Transform"). Sáng kiến này sẽ khơi dậy ý chí, hào khí và khát vọng phát triển của dân tộc, thực sự làm cho việc đổi mới thể chế và bộ máy có tác động lan tỏa tới lĩnh vực sản xuất, dịch vụ và toàn bộ đời sống xã hội. Có thể khởi đầu bằng những dự án thí điểm ở xã, phường với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các mô hình thành công sẽ được nhân rộng trên toàn quốc. Khuyến khích các doanh nghiệp tiên phong dẫn đầu trong việc tuân thủ các tiêu chuẩn kinh tế tiên tiến về quản trị, năng suất, văn hóa tổ chức và tính bền vững. 10) Thể chế hóa hội nhập sâu rộng ASEAN. Việt Nam phải đi đầu trong khu vực Đông Nam Á về xây dựng cơ chế hợp tác về phát triển năng lượng, kinh tế số, hàng không, giáo dục và đầu tư. Việt Nam cũng cần chủ động định hình thị trường chung thế hệ mới trong khu vực, chiếm lĩnh lợi thế, thúc đẩy chuyển đổi trong nước và vươn ra củng cố vị thế toàn cầu.
Hệ thống 10 giải pháp đột phá nêu trên thực sự là những gợi ý chiến lược đầy tâm huyết, trí tuệ rất nên được các cấp lãnh đạo Việt Nam nghiên cứu, tiếp nhận và vận dụng trong thực tiễn.
Trong thời gian gần đây, Nhóm nghiên cứu Khu vực học của Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển thuộc Đại học quốc gia Hà Nội đã tiến hành khảo sát tình hình thực tế ở một số địa phương sau khi hệ thống chính quyền hai cấp đi vào hoạt động và đã bước đầu nhận thấy một số khó khăn và thách thức đang nổi lên15:
 Một là, trong tư duy, trong chính sách, tổ chức và vận hành hệ thống chính quyền địa phương, các cấp lãnh đạo và quản lý đang tập trung quan tâm đến các mối liên hệ theo chiều dọc (vertical connections): xã/phường - tỉnh/thành phố - trung ương, mà chưa quan tâm nhiều đến các liên kết ngang (horizontal connections): liên xã/phường, liên tỉnh/thành, liên vùng.
 Hai là, ở hầu hết các địa phương, các cấp chính quyền cũng chưa quan tâm nhiều tới các kết nối theo chiều sâu (in-depth connection hoặc structural connections): kết nối liên lĩnh vực (kinh tế - xã hội - văn hóa - chính trị), kết nối ngành nghề, kết nối theo chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, kết nối xã hội, kết nối văn hóa,... Vì vậy, trong thời gian qua, thực chất mới chỉ diễn ra quá trình sắp xếp và tổ chức lại đơn vị hành chính và tổ chức hành chính. Để quá trình này thực sự là quá trình “sắp xếp lại giang sơn”, tái cấu trúc và mở rộng các không gian phát triển thì cần phải khẩn trương hỗ trợ các địa phương nhận thức được tầm quan trọng, ý nghĩa của các chiều cạnh đó và tăng cường các kết nối theo chiều ngang và theo chiều sâu. Khi đó, các đơn vị hành chính mới thực sự trở thành các không gian phát triển mới với những nguồn lực được kết nối và nhân lên hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả mới, dựa trên việc khơi thông và phát huy những nguồn lực nội sinh của từng địa phương.
Ba là, bộ máy chính quyền địa phương trong thời gian đầu hoạt động chưa đạt hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả như mong đợi, chủ yếu do đội ngũ cán bộ xã/ phường mới chưa kịp thích ứng với thực tiễn công tác. Mặc dù tình hình chung được ghi nhận là nhân dân rất đồng thuận và ủng hộ, đội ngũ cán bộ nhiệt huyết, nỗ lực công tác, nhưng nhìn chung trong 2 tháng đầu đều quá tải, nhiều công việc bị phân mảng, đứt gãy, trì trệ do cán bộ chưa quen việc, chưa đủ thông tin, thiếu phương tiện, nguồn lực, hệ thống thể chế, nhất là văn bản hướng dẫn chưa hoàn bị, rõ ràng, nền tảng cơ bản để vận hành hệ thống quản trị số hóa chưa sẵn sàng.
Qua khảo sát thực tế, Nhóm nghiên cứu cho rằng những bất cập nói trên không chỉ là những khó khăn tạm thời do sự bỡ ngỡ, chưa kịp thích ứng với tình hình mới của đội ngũ cán bộ và toàn bộ hệ thống chính quyền các cấp. Thực chất, hệ thống chính quyền địa phương hai cấp chỉ có thể vận hành hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả một khi nó chuyển biến thành hệ thống quản trị địa phương hiện đại dựa trên nền tảng số hóa đầy đủ. Nếu không kịp thời chuyển đổi số thành công và vận dụng những nguyên tắc và giải pháp của quản trị địa phương hiện đại thì chưa thể khắc phục được 3 hạn chế nói trên và công cuộc tinh gọn bộ máy tổ chức theo hướng hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả chưa đạt được kỳ vọng. Có thể từ đó những khó khăn mới sẽ nảy sinh.
Do đó, Nhóm nghiên cứu kiến nghị: Đảng và Nhà nước tập trung chỉ đạo và tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số, xây dựng nền quản trị địa phương hiện đại, hiệu quả, trong đó khâu then chốt là hỗ trợ, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ địa phương theo phương thức chuyên gia “on job training” để giúp các địa phương nhanh chóng tăng cường năng lực số và năng lực quản trị địa phương.
Bên cạnh đó, Nhóm nghiên cứu đặc biệt lưu ý tình trạng đứt gãy kết nối, nhất là các kết nối theo chiều ngang và chiều sâu, liên kết nội vùng, của các khu vực đô thị vốn trước kia là các thành phố trực thuộc tỉnh. Trong cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn”, các thành phố trực thuộc tỉnh/thành phố được quan niệm như một đơn vị hành chính trung gian, tương đương huyện/quận đã bị xóa bỏ. Tuy nhiên, trên thực tế, các khu vực vốn là thành phố trực thuộc đó vẫn là những thực thể đô thị, khác hẳn với các khu vực nông thôn kề cận. Từ sau ngày 1-7-2025, những thực thể đô thị này chia tách thành các phường mới, trực thuộc tỉnh hoặc thành phố. Vô hình trung, những phường mới trong khu vực đó trở thành những đơn vị hành chính gây chia cắt về quản lý – quản trị trong khu vực thành thị, không hỗ trợ tăng cường các kết nối theo chiều ngang và theo chiều sâu.
Từ thực tế đó, Nhóm nghiên cứu cho rằng, không nên tái lập chính quyền và bộ máy chính quyền của thành phố trực thuộc tỉnh/thành phố như trước kia, song cần nghiên cứu để có một cơ chế quản trị - có thể là một hình thức chính quyền đô thị nhưng dưới hình thức đặc khu hoặc “khu kinh tế tự do” (Free Economic Zone) hoặc “khu đô thị thông minh” (Smart City), hoặc “Khu đô thị sáng tạo” (Creative City) để khôi phục các kết nối đa tầng, đa diện theo chiều ngang và chiều sâu, khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực nội sinh năng động của các khu vực đô thị đó, để các khu vực đô thị thực sự trở thành những cực tăng trưởng, những đầu tàu dẫn dắt quá trình phát triển nhanh và bền vững ở các địa phương.

3. Kết luận
Đội ngũ chuyên gia Việt Nam học toàn cầu, dù đang làm việc tại Việt Nam hay ở các trường đại học và viện nghiên cứu trên thế giới đều bày tỏ sự quan tâm rất sâu sắc đối với tình hình phát triển bền vững ở Việt Nam. Đúng như nhận xét của Tổng Bí thư Tô Lâm, rằng “các bạn không chỉ nghiên cứu  “Việt Nam là ai trong quá khứ”, mà còn đang góp phần trả lời câu hỏi “Việt Nam sẽ là ai trong tương lai”. Đó là một đóng góp vừa mang giá trị học thuật vừa mang giá trị chiến lược”16.
Thứ nhất, một trong những quan tâm hàng đầu của các nhà Việt Nam học tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học lần thứ VII chính là cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, “sắp xếp lại giang sơn” do Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện quyết liệt, nhanh chóng, bài bản với những kết quả ban đầu rất cơ bản, cho thấy rõ “lợi thế thể chế” đặc biệt của chế độ “một đảng cầm quyền”. Lợi thế thể chế này cần được tiếp tục phát huy cao độ trong kỷ nguyên mới để biến lợi thế thể chế thành nguồn xung lực phát triển, thành cơ chế và sức mạnh cạnh tranh của Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng trên nền tảng của cách mạng công nghiệp mới (4.0, 5.0 và 6.0). Lợi thế thể chế này khi được phát huy cao độ sẽ thành nền tảng để Việt Nam bảo đảm sự “tự chủ chiến lược” trong toàn bộ quá trình xây dựng và thực thi đường lối, chiến lược phát triển trong kỷ nguyên mới ở cả cấp độ vĩ mô và vi mô, chiến lược tổng thể phát triển quốc gia cũng như chiến lược phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực. Đó cũng là cơ sở để lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam tăng cường đối thoại chiến lược với các đối tác quốc tế trong một thế giới luôn có nhiều xu hướng vận động khác nhau với cả thời cơ và thách thức đan xen trong thế cuộc khó lường.
Vì vậy, đề nghị Trung ương Đảng nghiên cứu, tiếp thu quan điểm: “Phát huy cao độ lợi thế thể chế của chế độ một đảng cầm quyền trong kỷ nguyên mới trong lãnh đạo và điều hành đất nước”.
Thứ hai, vấn đề cốt tử của toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong kỷ nguyên mới là phải xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam tiên phong, vững mạnh, đổi mới đồng bộ phương thức và nâng cao năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện để tăng cường hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, xây dựng, phát triển nhanh và bền vững đất nước, hoàn thành mục tiêu chiến lược đến năm 2045, Việt Nam là nước XHCN phát triển có thu nhập cao, phồn vinh, thịnh vượng, gia nhập vào nhóm các nước phát triển nhất trên thế giới. Cốt lõi và cần kíp nhất của vấn đề cốt tử này là xây dựng Đảng tiên phong về lý luận, như Hồ Chí Minh đã nêu ra từ quá trình vận động thành lập Đảng.
Bộ phận quan trọng trong lý luận tiên phong của Đảng chính là Chiến lược phát triển rút ngắn. “Bộ tứ trụ cột chiến lược” và các quyết sách do Đảng ban hành trong thời gian vừa qua chính là những hợp phần cơ bản của Chiến lược phát triển rút ngắn đó. Nhưng ở thời điểm hiện nay, các quyết sách đó chưa kết nối được với nhau, chưa thực sự tạo nên hệ luận tư duy mới của Đảng, để từ đó thấm nhuần vào tư duy và hành động của đảng viên và quần chúng nhân dân, tạo nên quyết tâm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, trở thành hào khí của dân tộc.
Do đó, Đảng cần nghiên cứu xây dựng Chiến lược phát triển rút ngắn của Việt Nam trong kỷ nguyên mới làm nền tảng cho các quyết sách chiến lược và các kịch bản phát triển của đất nước trong điều kiện mới và coi đó như là một trong những nhiệm vụ cốt yếu để tăng cường năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng trong kỷ nguyên mới.
Thứ ba, cuộc cách mạng tinh gọn hệ thống chính trị và cuộc cách mạng “sắp xếp lại giang sơn” của Đảng và nhân dân Việt Nam đang nhận được sự quan tâm rất mạnh mẽ của giới Việt Nam học toàn cầu. Thách thức lớn nhất đặt ra đối với cuộc cách mạng đó hiện nay và trong suốt kỷ nguyên mới là: phải xây dựng cho được một bộ máy quản trị quốc gia hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu năng, hiệu quả.
Để đáp ứng yêu cầu đó, các nhà Việt Nam học cho rằng: Đảng và Nhà nước Việt Nam cần nghiên cứu, tham khảo lựa chọn mô hình “nhà nước kiến tạo dẫn dắt phát triển” để phát huy lợi thế thể chế, xây dựng hệ thống quản trị và điều hành đất nước hiệu quả nhất. Hai yếu tố cốt lõi bảo đảm cho sự thành công của mô hình nhà nước này chính là: Chuyển đổi số thành công, tạo nên nền tảng kỹ trị cho hệ thống quản trị quốc gia hiện đại; Đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý thế hệ mới theo nguyên tắc kỹ trị (technocracy), với năng lực cốt lõi là năng lực đổi mới sáng tạo và dẫn dắt phát triển.




Ngày nhận bài: 22-11-2025; ngày thẩm định đánh giá:12-12-2025; ngày duyệt đăng:24-12-2025
1, 2, 3. 4, 5, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam, “Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, https://nhandan.vn/du-thao-bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiv-cua-dang-post915432.html, ngày truy cập ngày 7-11-2025
8. Ngày 26-10-2025, tại Văn phòng Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc gặp gỡ với hơn 40 nhà khoa học Việt Nam và quốc tế tham dự Hội thảo Quốc tế về “Việt Nam học lần thứ VII” do Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tổ chức
9, 16. Tô Lâm: “Phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm với đại biểu tham dự Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 7”, https://special.nhandan.vn/phatbieuTBT-taihoithaoVNH/index.html, ngày truy cập: 8-11-2025
10. Thaveeporn Vasavakul: “Vietnam’s Streamlining of Political Institutions from a Comparative and Global Perspective: Revolution or Reform?”, tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học VII, tháng 10-2025
11. Xem: Lê Quân, Phạm Hồng Tung: “Xây dựng Đảng tiên phong trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”, Báo Nhân dân điện tửhttps://nhandan.vn/special/xay-dung-Dang-tien-phong-trong-ky-nguyen-vuon-minh-cua-dan-toc/index.html, ngày truy cập: 11-10-2025
12. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 2, tr. 289
13. Vũ Minh Khương: “Institutional Reform: A Strategic Breakthrough to Propel Vietnam Onto a Higher Growth Trajectory”, tham luận tại Hội thảo Quốc tế về Việt Nam học VII, Hà Nội, 10-2025
14.https://special.nhandan.vn/chinh-quyen-dia-phuong-2-cap-bai1/index.html?_gl=1*1kyuda7*_ga*MTAwODYwMzE4LjE3NjIzNDAzNjc.*_ga_2KXX3JWTKT*czE3NjIzNDAzNjckbzEkZzEkdDE3NjIzNDA0MjUkajIkbDAkaDA, ngày truy cập: 10-11-2025
15. Địa bàn khảo sát ở một số xã/phường thuộc tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh và Hưng Yên trong tháng 8, 9 và 10-2025.
GS, TS PHẠM HỒNG TUNG
Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Đặt vấn đềDự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng (viết tắt là Dự thảo Báo cáo chính trị) ghi nhận một trong những thành tựu to lớn mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân Việt Nam đã đạt được trong nhiệm kỳ khóa XIII là: “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị đạt được nhiều kết quả rất quan trọng, có mặt nổi bật, đột phá chưa từng có”1; “cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá”2. Bên cạnh đó, Dự thảo Báo cáo chính trị cũng chỉ ra một số hạn chế trong lĩnh vực công tác này: “Xây dựng Nh&agra

Tin khác cùng chủ đề

Về một số luận điểm của chủ nghĩa Mác trong kỷ nguyên số
Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV
MẠNG LƯỚI TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG MARX – LENIN TRONG THANH NIÊN TIỂU TƯ SẢN VIỆT NAM (1920 – 1930) – TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG VÀ NHÂN LỰC CỦA SỰ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Khánh Hòa tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng
Giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn hiện nay

Gửi bình luận của bạn