Trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Việt Nam đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế – xã hội, vị thế quốc gia ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, quá trình phát triển cũng đặt ra không ít thách thức liên quan đến suy giảm giá trị văn hóa, nguy cơ đồng hóa, thương mại hóa văn hóa và những đứt gãy trong truyền thừa các chuẩn mực đạo đức, lối sống. Trước yêu cầu phát triển bền vững, văn hóa không thể chỉ được xem là lĩnh vực “hậu cần tinh thần” mà cần được xác lập như một trụ cột phát triển, một động lực nội sinh có khả năng dẫn dắt sự phát triển dài hạn của đất nước.

Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững đất nước
Phát huy giá trị văn hóa Việt Nam trong chiến lược phát triển bền vững đất nước

1. Vị thế và tầm quan trọng của giá trị văn hóa trong phát triển bền vững

Trong tư duy chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam, văn hóa không bao giờ được coi là một lĩnh vực thụ động hay đi sau kinh tế. Trái lại, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và đồng thời là động lực nội sinh quan trọng nhất để đảm bảo sự phát triển bền vững. Một quốc gia dù có chỉ số tăng trưởng kinh tế (GDP) cao đến đâu nhưng nếu thiếu đi bản sắc văn hóa và hệ giá trị đạo đức vững chãi, quốc gia đó sẽ dễ dàng rơi vào khủng hoảng giá trị, mất đi bản lĩnh trước những biến động của thời đại.

Thứ nhất, văn hóa đóng vai trò là hệ điều tiết và mục tiêu của sự phát triển. Văn hóa giúp định hướng các hoạt động kinh tế - xã hội hướng tới những giá trị chân - thiện - mỹ, ngăn chặn xu hướng tăng trưởng bằng mọi giá, vốn thường dẫn đến sự suy đồi về đạo đức và hủy hoại môi trường1. Trong chiến lược phát triển bền vững, các giá trị truyền thống như lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng chính là bộ lọc để chúng ta tiếp nhận tinh hoa nhân loại mà không bị hòa tan. Văn hóa tạo ra sức đề kháng tự nhiên, giúp dân tộc đứng vững trước những luồng tư tưởng ngoại lai lệch lạc, đồng thời gắn kết mọi tầng lớp nhân dân vào mục tiêu chung là xây dựng một xã hội công bằng và văn minh.

Thứ hai, văn hóa là nguồn lực nội sinh dồi dào và động lực thúc đẩy kinh tế trực tiếp. Di sản văn hóa không chỉ là những báu vật của quá khứ cần được bảo tồn mà chính là vàng ròng của hiện tại nếu được khai thác đúng cách. Các ngành công nghiệp văn hóa như du lịch di sản, điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và thiết kế sáng tạo đang dần trở thành những mũi nhọn kinh tế mới, đóng góp đáng kể vào tỉ trọng GDP. Hơn thế nữa, văn hóa chính là thành tố cốt lõi của Sức mạnh mềm (Soft Power) quốc gia. Thông qua tà áo dài, ẩm thực đậm đà bản sắc hay những làn điệu dân ca được UNESCO vinh danh, Việt Nam đã tạo dựng được một hình ảnh quốc gia hòa bình, thân thiện và giàu bản sắc. Đây là vũ khí hiệu quả nhất để thu hút đầu tư, thúc đẩy ngoại giao và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thứ ba, giá trị văn hóa là cơ sở cho kinh tế xanh và lối sống bền vững. Triết lý văn hóa Việt Nam từ ngàn xưa luôn đề cao sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên (thuận thiên). Những phong tục thờ cúng rừng, bảo vệ nguồn nước hay lối sống tiết kiệm, giản dị của cha ông ta chính là tiền thân của các nguyên lý kinh tế tuần hoàn và phát triển xanh ngày nay. Khi các giá trị này được khơi dậy và lồng ghép vào tư duy quản lý hiện đại, chúng sẽ thúc đẩy cộng đồng có ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường, coi thiên nhiên là người bạn thay vì là đối tượng để khai thác cạn kiệt.

Có thể thấy, văn hóa chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi lĩnh vực của đời sống. Phát huy giá trị văn hóa trong chiến lược phát triển bền vững không chỉ là bảo vệ những gì chúng ta có, mà là phát triển những gì chúng ta là, một dân tộc tự trọng, tự cường và giàu khát vọng sáng tạo. Văn hóa chính là động lực để Việt Nam phát triển nhanh về kinh tế nhưng vẫn giữ được tâm hồn và bản sắc riêng giữa dòng chảy toàn cầu hóa.

2. Thực trạng phát huy giá trị văn hóa gắn với sự nghiệp phát triển đất nước

Nhìn lại chặng đường phát triển vừa qua, công tác phát huy các giá trị văn hóa tại Việt Nam đã có những bước tiến dài, chuyển dịch từ tư duy bảo tồn tĩnh sang phát triển động. Tuy nhiên, bên cạnh những ánh sáng rực rỡ từ các di sản được tôn vinh, văn hóa Việt Nam vẫn đang phải đối mặt với những cơn sóng dữ từ quá trình toàn cầu hóa và sự biến đổi nhanh chóng của môi trường xã hội.

Về những kết quả tích cực, nhận thức của toàn xã hội về vai trò của văn hóa đã có sự chuyển biến sâu sắc, đặc biệt là sau Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021. Văn hóa không còn bị xem là hậu đài của kinh tế mà đã trở thành mục tiêu ưu tiên trong các nghị quyết phát triển địa phương. Việt Nam hiện sở hữu hàng chục di sản được UNESCO vinh danh, tạo nên những thương hiệu du lịch mạnh mẽ như Hội An, Cố đô Huế hay Quần thể danh thắng Tràng An. Các di sản này không chỉ là niềm tự hào mà còn là con gà đẻ trứng vàng cho kinh tế địa phương, tạo ra hàng triệu việc làm và thúc đẩy hạ tầng phát triển. Sự trỗi dậy của các sản phẩm nghệ thuật hiện đại mang âm hưởng dân gian (như âm nhạc, thời trang, điện ảnh) cho thấy sức sống mãnh liệt của truyền thống khi được kết hợp với hơi thở thời đại.

Tuy nhiên, thực tế vẫn đang tồn tại những thách thức gay gắt. Đầu tiên là sự lệch lạc trong hệ giá trị và đạo đức lối sống. Trong một bộ phận giới trẻ, lối sống thực dụng, sùng bái vật chất và sự xâm lăng của các luồng văn hóa ngoại lai độc hại qua không gian mạng đang làm xói mòn bản sắc dân tộc. Tình trạng nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị và sự xuống cấp về đạo đức trong gia đình, nhà trường đang là hồi chuông cảnh báo về việc nền tảng tinh thần bị lung lay2. Việc xây dựng con người Việt Nam mới có đủ đức, đủ tài, đủ bản lĩnh để hội nhập vẫn còn khoảng cách lớn so với yêu cầu thực tế.

Thứ hai, nguồn lực đầu tư cho văn hóa vẫn chưa tương xứng với kinh tế. Mặc dù có chủ trương đầu tư cho văn hóa ngang tầm với kinh tế, nhưng trên thực tế, ngân sách dành cho văn hóa tại nhiều nơi vẫn còn khiêm tốn. Nhiều di tích quốc gia bị xuống cấp nghiêm trọng hoặc bị trùng tu sai cách làm mất đi giá trị gốc. Ngành công nghiệp văn hóa của Việt Nam dù giàu tiềm năng nhưng vẫn đang ở giai đoạn manh mún, thiếu những tập đoàn văn hóa lớn và các cơ chế chính sách đủ mạnh để bảo hộ quyền tác giả cũng như khuyến khích sự sáng tạo đột phá.

Thứ ba, sự mất cân bằng trong hưởng thụ văn hóa. Khoảng cách về mức độ tiếp cận văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa miền xuôi và miền núi đang ngày càng giãn rộng. Trong khi các đô thị lớn dư thừa các loại hình giải trí hiện đại, thì vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn thiếu thốn các không gian văn hóa cộng đồng cơ bản. Sự "thương mại hóa" quá mức tại các lễ hội truyền thống đã biến nhiều giá trị tâm linh cao đẹp thành nơi trục lợi, làm biến tướng bản sắc và gây phản cảm trong dư luận xã hội.

Tóm lại, thực trạng phát huy giá trị văn hóa hiện nay là một bức tranh đa sắc, có cả những cơ hội vàng và những thách thức sống còn. Để văn hóa thực sự trở thành nguồn động lực cho phát triển bền vững, chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc tôn vinh quá khứ mà phải có những hành động quyết liệt để làm sạch môi trường văn hóa, đầu tư thực chất cho con người và tạo ra cơ chế để văn hóa tự nuôi được chính mình trong lòng nền kinh tế thị trường.

Sự mâu thuẫn giữa bảo tồn di sản và áp lực đô thị hóa. Một trong những thực trạng nhức nhối hiện nay là sự xung đột lợi ích giữa việc giữ gìn các giá trị văn hóa vật thể và nhu cầu phát triển hạ tầng đô thị. Tại các thành phố lớn như Hà Nội hay TP. Hồ Chí Minh, nhiều không gian văn hóa, các công trình kiến trúc cổ có giá trị lịch sử đang dần bị thay thế bởi các tòa nhà cao tầng hoặc các dự án thương mại. Việc "hy sinh" di sản để đổi lấy diện tích hạ tầng không chỉ làm nghèo nàn đi bộ mặt kiến trúc đô thị mà còn làm đứt gãy sợi dây liên kết giữa các thế hệ. Điều này dẫn đến thực trạng đô thị không hồn, nơi các giá trị lịch sử bị đẩy ra ngoài lề của sự phát triển, khiến du khách quốc tế đến Việt Nam chỉ thấy những khối bê tông vô cảm thay vì những câu chuyện lịch sử trầm mặc.

Thực trạng thương mại hóa và tầm thường hóa lễ hội truyền thống3. Việc phát huy giá trị văn hóa đôi khi bị hiểu sai lệch thành việc khai thác kinh tế tối đa từ di sản. Nhiều lễ hội dân gian vốn mang tính cộng đồng và tâm linh cao cả đã bị biến tướng thành những dịch vụ kinh doanh tâm linh. Tình trạng mê tín dị đoan, chặt chém du khách, hay sự xô bồ tại các điểm di tích trong mùa lễ hội đã làm vẩn đục môi trường văn hóa. Thay vì là nơi để con người tìm về cội nguồn và tu dưỡng đạo đức, một số lễ hội lại trở thành nơi trình diễn sự giàu sang hay các hành vi thiếu văn minh. Sự tầm thường hóa này không chỉ làm giảm sức hút của du lịch văn hóa mà còn trực tiếp bóp méo hình ảnh quốc gia trong mắt bạn bè quốc tế.

Sức ép từ xâm lăng văn hóa trên không gian mạng và sự lung lay của hệ giá trị. Trong điều kiện hiện nay, biên giới văn hóa không còn nằm ở những ranh giới địa lý. Sự phát triển bùng nổ của các nền tảng xuyên biên giới đã đưa các sản phẩm văn hóa ngoại lai tràn ngập vào đời sống của người dân, đặc biệt là thế giới quan của thế hệ Gen Z và Gen Alpha. Thực trạng đáng ngại là sự xuất hiện của các trào lưu văn hóa rác, những nội dung độc hại trên YouTube, TikTok đang dần thay thế những giá trị đạo đức truyền thống. Những chuẩn mực về sự kính trên nhường dưới, tính liêm chính và sự khiêm tốn đang bị thách thức bởi tư duy đề cao cái tôi cá nhân cực đoan và lối sống hưởng thụ. Nếu không có giải pháp định hướng kịp thời, chúng ta sẽ đối mặt với một thế hệ mất gốc ngay trên chính mảnh đất quê hương mình, những người am hiểu văn hóa thế giới nhưng lại xa lạ với lịch sử và tâm hồn dân tộc.

Sự bất cập trong cơ chế chính sách và đào tạo nguồn nhân lực văn hóa. Dù chúng ta đã có nhiều nghị quyết về văn hóa, nhưng việc cụ thể hóa thành các văn bản pháp quy để hỗ trợ các nghệ nhân, các chủ thể văn hóa vẫn còn chậm. Chế độ đãi ngộ đối với những người làm công tác bảo tồn di sản, các nghệ nhân dân gian, những báu vật nhân văn sống, còn quá thấp, khiến nhiều nghề truyền thống đứng trước nguy cơ thất truyền vì không có người kế cận. Bên cạnh đó, việc đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp văn hóa còn mang nặng tính lý thuyết, thiếu sự kết nối với thị trường thực tế. Chúng ta có những nghệ sĩ tài năng nhưng lại thiếu những nhà quản trị văn hóa giỏi, những người có khả năng đóng gói giá trị truyền thống thành những sản phẩm văn hóa có sức cạnh tranh toàn cầu.

Sự chênh lệch về mức độ thụ hưởng văn hóa giữa các vùng miền. Thực tế cho thấy, một bộ phận không nhỏ đồng bào các dân tộc thiểu số và người dân vùng sâu vùng xa đang bị bỏ lại phía sau trong tiến trình phát triển văn hóa. Trong khi các đô thị lớn được đầu tư mạnh mẽ về nhà hát, rạp chiếu phim, triển lãm, thì ở vùng nông thôn, các nhà văn hóa xã nhiều nơi vẫn đóng cửa hoặc hoạt động hình thức. Sự thiếu hụt các sản phẩm văn hóa phù hợp với bản sắc địa phương nhưng vẫn đảm bảo tính hiện đại đã khiến đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân trở nên nghèo nàn. Điều này không chỉ gây ra sự bất bình đẳng xã hội mà còn là kẽ hở để các luồng tư tưởng xấu xâm nhập, gây ảnh hưởng đến an ninh chính trị tại các địa bàn chiến lược.

Tóm lại, thực trạng phát huy giá trị văn hóa hiện nay đang đặt ra những bài toán vô cùng phức tạp. Chúng ta đang đứng trước đòi hỏi phải vừa giữ vững gốc rễ là bản sắc dân tộc, vừa phải vươn cao cành lá để đón nhận tinh hoa của thế giới. Mọi sự phát triển kinh tế nếu không dựa trên nền tảng văn hóa vững chắc sẽ chỉ là sự thịnh vượng nhất thời và thiếu bền vững.

3. Giải pháp phát huy giá trị văn hóa Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045

Để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, soi đường cho quốc dân đi như lời khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần những hành động quyết liệt và đồng bộ. Các giải pháp trong giai đoạn tới không chỉ dừng lại ở việc bảo tồn nguyên trạng mà phải là quá trình tái sinh các giá trị cũ trong bối cảnh hiện đại, biến văn hóa thành nguồn lực trực tiếp phục vụ khát vọng hùng cường của dân tộc.

Xây dựng và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời đại mới. Đây là giải pháp nền tảng, có tính chất định hướng cho toàn bộ chiến lược phát triển bền vững. Chúng ta cần cụ thể hóa các giá trị cốt lõi như: Yêu nước, đoàn kết, tự cường, nghĩa tình, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo vào trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Các giá trị này phải được thấm sâu vào hệ thống giáo dục từ mầm non đến đại học, trở thành bộ quy tắc ứng xử trong công sở và cộng đồng. Đặc biệt, cần gắn kết chặt chẽ việc xây dựng văn hóa với xây dựng chỉnh đốn Đảng, để mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương đạo đức, từ đó tạo ra sức lan tỏa văn hóa liêm chính, bài trừ cái xấu, cái ác và sự vô cảm trong xã hội.

Tập trung phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp văn hóa có lợi thế cạnh tranh. Việt Nam cần thay đổi tư duy từ làm văn hóa sang kinh tế văn hóa. Cần có các cơ chế ưu đãi đặc thù về thuế, đất đai và tín dụng để hình thành các cụm công nghiệp văn hóa tập trung. Đặc biệt ưu tiên vào các lĩnh vực như du lịch văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, điện ảnh và thiết kế sáng tạo. Chúng ta cần khuyến khích các mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong việc quản lý và khai thác di sản. Khi các di sản tự nuôi được chính mình thông qua các dịch vụ du lịch cao cấp và sản phẩm sáng tạo, nguồn lực nhà nước sẽ được giải phóng để tập trung vào các công tác bảo tồn trọng điểm. Mục tiêu là biến những giá trị tinh thần thành các sản phẩm hàng hóa có giá trị gia tăng cao, góp phần quan trọng vào tỷ trọng GDP quốc gia.

Đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trong lĩnh vực văn hóa và di sản. Đây là giải pháp đột phá để đưa văn hóa Việt Nam vượt biên giới một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Cần xây dựng bản đồ số di sản quốc gia, số hóa 3D các di tích, hiện vật bảo tàng để phục vụ công tác nghiên cứu và du lịch thực tế ảo. Việc phát triển các nền tảng văn hóa số không chỉ giúp lưu giữ di sản trước sự tàn phá của thời gian mà còn tạo ra những không gian trải nghiệm mới mẻ, hấp dẫn thế hệ trẻ. Đồng thời, cần chủ động xây dựng các đặc khu văn hóa trên không gian mạng, nơi chúng ta quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam ra thế giới, đồng thời thiết lập các màng lọc công nghệ để ngăn chặn sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại, bảo vệ an ninh văn hóa quốc gia.

Đổi mới phương thức ngoại giao văn hóa và nâng tầm Sức mạnh mềm quốc gia. Mỗi đại sứ, mỗi du khách và mỗi sản phẩm mang nhãn hiệu Made in Vietnam phải là một sứ giả văn hóa. Chúng ta cần đầu tư xây dựng các trung tâm văn hóa Việt Nam tại các địa bàn trọng điểm trên thế giới như New York, Paris, Tokyo... để tổ chức các hoạt động quảng bá định kỳ. Cần chuyên nghiệp hóa việc tổ chức các tuần lễ văn hóa, liên hoan phim, triển lãm nghệ thuật quốc tế để kể câu chuyện Việt Nam bằng ngôn ngữ của thời đại. Khi văn hóa Việt Nam trở nên gần gũi và được mến mộ trên thế giới, đó chính là nguồn lực quan trọng nhất để chúng ta tháo gỡ các rào cản thương mại và thu hút các nguồn lực quốc tế cho sự phát triển bền vững.

Hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực quản trị nhà nước về văn hóa. Cần sớm ban hành Luật Công nghiệp văn hóa và sửa đổi các luật liên quan để tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho sự sáng tạo. Phải có chính sách đãi ngộ đặc biệt đối với các nghệ nhân, các nhà khoa học, chuyên gia văn hóa để họ yên tâm cống hiến. Song song đó, cần tăng cường kiểm tra, giám sát, kiên quyết xử lý tình trạng thương mại hóa di sản và các hành vi làm biến dạng bản sắc văn hóa dân tộc. Sự minh bạch và công bằng trong quản lý văn hóa sẽ tạo động lực cho các tầng lớp nhân dân tự nguyện tham gia vào công cuộc giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống.

Tóm lại, phát huy giá trị văn hóa trong chiến lược phát triển bền vững không phải là một khẩu hiệu, mà là một cuộc kiến tạo vĩ đại. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa bảo tồn và phát triển, giữa truyền thống và công nghệ, chúng ta sẽ tạo ra một sức mạnh cộng hưởng to lớn, đưa dân tộc Việt Nam vươn tới những đỉnh cao mới mà vẫn giữ trọn được cốt cách và tâm hồn của mình.


1. Vũ Thị Phương Hậu, Góp ý Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng: Văn hóa - hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh, bền vững đất nước, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/dan-so-vung-bien-ao/-/2018/1197802/view_content.

2.  “Nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” – căn bệnh cần chữa trị kịp thời và triệt để, https://doanthanhnien.vn/tin-tuc/bao-ve-nen-tang-tu-tuong-cua-dang/%E2%80%9Cnhat-dang-kho-doan-xa-roi-chinh-tri%E2%80%9D-%E2%80%93-can-benh-can-chua-tri-kip-thoi-va-triet-de.

3. Trần Hữu Sơn, Trần Thùy Dương, Xu hướng biến đổi của lễ hội truyền thống hiện nay, https://www.tapchicongsan.org.vn/van_hoa_xa_hoi/-/2018/823109/xu-huong-bien-doi-cua-le-hoi-truyen-thong-hien-nay.aspx.

 

TS. BÙI THỊ TRÀ - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh

1. Vị thế và tầm quan trọng của giá trị văn hóa trong phát triển bền vững Trong tư duy chiến lược phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam, văn hóa không bao giờ được coi là một lĩnh vực thụ động hay đi sau kinh tế. Trái lại, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và đồng thời là động lực nội sinh quan trọng nhất để đảm bảo sự phát triển bền vững. Một quốc gia dù có chỉ số tăng trưởng kinh tế (GDP) cao đến đâu nhưng nếu thiếu đi bản sắc văn hóa và hệ giá trị đạo đức vững chãi, quốc gia đó sẽ dễ dàng rơi vào khủng hoảng giá trị, mất đi bản lĩnh trước những biến động của thời đại. Thứ nhất, văn hóa đóng vai trò là hệ điều tiết và mục tiêu của sự phát triển. Văn hóa giúp định hướng

Tin khác cùng chủ đề

Rộn ràng khúc ca đón chào năm mới
Năm 2023: Chờ sức bật từ những chuyển biến lớn về văn hóa
Kỷ niệm 47 năm Ngày giải phóng Nha Trang - Khánh Hòa
Tiếng vọng từ lòng đất
Đội ngũ văn nghệ sĩ phát huy truyền thống vẻ vang, chiếm lĩnh những đỉnh cao mới trong sáng tạo nghệ thuật*
Khai mạc triển lãm tem bưu chính "Nha Trang biển gọi - Dấu ấn bác sĩ Alexandre Yersin"

Gửi bình luận của bạn