Tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong hệ thống tư tưởng đối ngoại của Người, thể hiện ở quan điểm kết hợp độc lập, tự chủ với mở rộng hợp tác quốc tế; gắn ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế; thực hiện hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trên cơ sở đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng sáng tạo, linh hoạt trong đường lối đối ngoại, nhất là trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga thời kỳ đổi mới, hội nhập quốc tế; khẳng định giá trị lý luận và thực tiễn bền vững của tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh trong việc định hướng và nâng cao hiệu quả quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga hiện nay.

Vận dụng tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga
Vận dụng tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga

Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt đội danh dự Quân đội Liên Xô trong lễ đón đoàn đại biểu Chính phủ Việt Nam
thăm chính thức Liên Xô ngày 12-7-1955

1. Đặt vấn đề
Trong hệ thống tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao kinh tế giữ vai trò quan trọng, thể hiện tư duy kết hợp giữa độc lập, tự chủ với mở rộng hợp tác quốc tế, giữa ngoại giao chính trị với phát triển kinh tế, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Những quan điểm đó không chỉ góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mà còn trở thành cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới. Trong đường lối đối ngoại của Việt Nam, Liên bang Nga luôn được xác định là một trong những đối tác ưu tiên hàng đầu. Trên nền tảng hữu nghị truyền thống và tin cậy chính trị, quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga đã phát triển thành quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với nhiều lĩnh vực hợp tác quan trọng, đặc biệt là kinh tế, năng lượng, thương mại và khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình quốc tế có nhiều biến động, hợp tác kinh tế giữa hai nước vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nền tảng quan hệ chính trị tốt đẹp. Bài viết tập trung làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh; sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đường lối đối ngoại Việt Nam - Liên bang Nga.
Để đạt được mục tiêu trên, bài viết tập trung thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau: (1) hệ thống hóa và phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh; (2) làm rõ sự vận dụng của Đảng Cộng sản Việt Nam trong đường lối đối ngoại và hợp tác kinh tế với Liên bang Nga.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm hệ thống hóa những nội dung cơ bản của tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh. Bên cạnh đó, phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để khai thác văn kiện Đại hội Đảng, các tuyên bố chung, thỏa thuận hợp tác song phương và các công trình nghiên cứu liên quan. Qua đó, khái quát những nguyên tắc và biểu hiện cụ thể của ngoại giao kinh tế trong thực tiễn. Ngoài ra, bài viết vận dụng phương pháp so sánh và phân tích chính sách nhằm đánh giá sự kế thừa, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh quốc tế hiện nay. Sự kết hợp các phương pháp trên bảo đảm tính khoa học, khách quan và toàn diện của nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

3.1. Một số nội dung chủ yếu trong tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh
Một làphát triển kinh tế toàn diện, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi
Hồ Chí Minh sớm xác lập tư duy mở cửa và hợp tác kinh tế quốc tế trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; khẳng định chính sách mở cửa và hợp tác kinh tế toàn diện của Nhà nước Việt Nam mới: “…a) Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình. b) Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế…” (Hồ Chí Minh, 2011,T.4, tr. 523). Tư tưởng này cho thấy tính linh hoạt, cởi mở trong tư duy kinh tế đối ngoại của Người; đồng thời phản ánh tầm nhìn vượt thời đại: xem hợp tác quốc tế không chỉ là chiến lược phát triển, mà còn là cách thức bảo đảm hòa bình và ổn định quốc tế.
Đề cao nguyên tắc hợp tác bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, phát huy tinh thần quốc tế vô sản
Hồ Chí Minh luôn đề cao nguyên tắc bình đẳng, tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ và cùng có lợi trong quan hệ quốc tế. Người nhấn mạnh rằng quan hệ giữa các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, đều phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và lợi ích hài hòa. Trong quan hệ với các nước XHCN, Người khẳng định: “Những mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Liên Xô… Trung Quốc và các nước trong phe xã hội chủ nghĩa rất tốt đẹp và là những mối quan hệ anh em dựa trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi” (Hồ Chí Minh, 2011,T.11, tr. 266-267). Với các quốc gia từng là đối thủ, Hồ Chí Minh thể hiện tinh thần hòa hiếu, cởi mở và hợp tác, nhằm tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Người chỉ rõ: “Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hoan nghênh sự phát triển quan hệ về mọi mặt với nước Pháp trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi” (Hồ Chí Minh, 2011, T.10, tr. 364); đồng thời, nhấn mạnh lập trường đối ngoại rộng mở “Trên nguyên tắc bình đẳng và hai bên cùng có lợi, chúng tôi sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao và thương mại với tất cả các nước” (Hồ Chí Minh, 2011,T.10, tr.317). Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn gắn kết độc lập dân tộc với hợp tác quốc tế, coi kinh tế là yếu tố quan trọng củng cố nền độc lập và nâng cao vị thế quốc gia, qua đó tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của quốc tế cho sự nghiệp kháng chiến và phát triển đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế và ngoại giao kinh tế là sự kết tinh giữa chủ nghĩa yêu nước, tinh thần tự lực tự cường và tư duy hội nhập hiện đại, tiếp tục định hướng đường lối đối ngoại của Việt Nam hiện nay theo hướng vừa bảo đảm độc lập, tự chủ, vừa chủ động, linh hoạt hội nhập, gắn phát triển kinh tế với bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc.

3.2. Sự vận dụng tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga thời kỳ đổi mới
 Sự vận dụng và phát triển tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quan hệ hợp tác giữa Việt Nam - Liên bang Nga thời kỳ đổi mới thể hiện trên nhiều phương diện: giữ vững độc lập, tự chủ gắn với mở rộng hợp tác quốc tế; xây dựng quan hệ hòa bình, hữu nghị làm nền tảng cho hợp tác kinh tế; kết hợp chặt chẽ ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế; bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi; đồng thời phát huy tư duy linh hoạt, sáng tạo trong xử lý quan hệ quốc tế.
Thứ nhất, giữ vững nguyên tắc độc lập, tự chủ đồng thời chủ động mở rộng hợp tác quốc tế
Từ Đại hội VI (1986), Đảng xác định chủ trương “tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, T.47, tr.415) đã đánh dấu bước chuyển từ tư duy đối ngoại khép kín sang chủ động hội nhập kinh tế thế giới. Trong bối cảnh Liên Xô tan rã đầu thập niên 90, Việt Nam đã nhanh chóng điều chỉnh khuôn khổ quan hệ với Liên bang Nga trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau và phù hợp với lợi ích lâu dài của mỗi bên. Hiệp ước năm 1994 về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị Việt Nam - Liên bang Nga đã tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho sự phát triển ổn định và bền vững của quan hệ song phương trong giai đoạn mới.
Quan điểm độc lập, tự chủ, nhưng không khép kín tiếp tục được Đảng khẳng định trong các kỳ Đại hội VII (1991), Đại hội VIII (1996) và Đại hội IX (2001), đặc biệt là chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việc nâng cấp quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga lên Đối tác chiến lược (2001) và Đối tác chiến lược toàn diện (2012) phản ánh rõ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đồng thời, cho thấy đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ không làm thu hẹp hợp tác, mà ngược lại tạo điều kiện để hợp tác được thực hiện bình đẳng, hiệu quả và bền vững hơn. Tinh thần đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ tại Đại hội XII (2016), XIII (2021) và XIV (2026) của Đảng. Thực tiễn đối ngoại cấp cao cũng thể hiện rõ sự nhất quán này. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh: Việt Nam nhất quán triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, luôn coi quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác Chiến lược toàn diện với Nga là một trong những ưu tiên hàng đầu; mong muốn cùng Nga thúc đẩy bảo đảm an ninh, hợp tác và phát triển tại khu vực và trên thế giới. (Việt Hằng,15-1-2025). Khẳng định này không chỉ mang ý nghĩa chính trị - ngoại giao, mà còn cho thấy sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Trong thực tiễn, quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên bang Nga là minh chứng rõ nét cho sự vận dụng nhất quán nguyên tắc đối ngoại độc lập, tự chủ, bình đẳng, hiệu quả và bền vững. Hai nước duy trì đà tăng trưởng thương mại tích cực. Trong 11 tháng đầu năm 2025, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga đạt khoảng 4,3 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, xuất khẩu của Nga sang Việt Nam đạt 2,24 tỷ USD, tăng 10,75%; nhập khẩu đạt 2,06 tỷ USD. Trong lĩnh vực năng lượng, hợp tác dầu khí giữa hai nước tiếp tục được triển khai với sự tham gia của các tập đoàn lớn của Nga như Zarubezhneft, Gazprom, NOVATEK và Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam). Nga tiếp tục là một trong những nhà cung cấp nhiên liệu quan trọng cho các nhà máy nhiệt điện của Việt Nam (Trung Hưng, 29-12-2025). Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên khoảng15 tỷ USD đến năm 2030 (Vinh Tho - Thanh Hien, 30-12-2025).
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, việc Việt Nam duy trì và phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với Liên bang Nga cho thấy sự nhất quán trong đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự, không đứng về bên này chống bên kia, mà chủ trương hợp tác trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Điều này phản ánh rõ sự vận dụng tư tưởng của Hồ Chí Minh về việc giữ vững cái bất biến là lợi ích quốc gia - dân tộc trong khi linh hoạt trong phương thức hợp tác. Quan hệ Việt Nam - Nga không chỉ mang tính kế thừa truyền thống mà còn thể hiện bản lĩnh cân bằng chiến lược của Việt Nam trong cấu trúc quyền lực quốc tế đang chuyển dịch.
Thứ hai, ngoại giao hòa bình, hữu nghị làm nền tảng cho hợp tác kinh tế phát triển
Hồ Chí Minh luôn nhất quán chủ trương: “Việt Nam sẵn sàng làm bạn với tất cả các nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (Hồ Chí Minh, 2011,T.5, tr. 256), coi hòa bình, hữu nghị và tôn trọng lẫn nhau là nền tảng cho hợp tác lâu dài. Quan điểm này được Đảng kế thừa trong đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới, với phương châm “Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, T.I, tr.162), “nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại; phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hoá và vị thế của đất nước. Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.I, tr.117).
Trong quan hệ Việt Nam - Nga, nền tảng chính trị - ngoại giao ổn định, tin cậy cao đã tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy hợp tác kinh tế trên nhiều lĩnh vực. Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Việt Nam đặc biệt coi trọng quan hệ truyền thống, đối tác Chiến lược toàn diện với Nga, luôn coi Nga là đối tác quan trọng hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Việt Nam (Tạp chí Công thương, 14-1-2025).  
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Liên bang Nga vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực. Kim ngạch thương mại song phương liên tục được cải thiện, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, công nghiệp chế biến và xuất nhập khẩu nguyên liệu. Trong tháng 1-2025, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Nga tăng trưởng ở mức cao so với cùng kỳ 2024. Lúa mì đạt 15,5 triệu USD (tăng 258%); hóa chất đạt 6,37 triệu USD (tăng 204%); sản phẩm hóa chất đạt 275,5 ngàn USD (tăng 457%); chất dẻo nguyên liệu đạt 9,48 triệu USD (tăng 262%), phân bón các loại tiếp tục duy trì đà tăng trong năm 2024, đạt 52,78 triệu USD (tăng 20,5%); cao su đạt 3,7 triệu USD (tăng 15%)… (Vũ Khuê, 17-2-2025). Những con số này cho thấy, khi quan hệ chính trị được củng cố trên nền tảng hòa bình, tin cậy và tôn trọng lẫn nhau theo đúng tinh thần các Đại hội Đảng, hợp tác kinh tế có điều kiện phát triển thực chất và hiệu quả.
Thứ ba, kết hợp chặt chẽ ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế
Hồ Chí Minh chỉ rõ ngoại giao phải phục vụ nhiệm vụ phát triển đất nước, ngoại giao chính trị không tách rời mà phải mở đường cho hợp tác kinh tế. Quán triệt tinh thần đó, Đại hội XIII xác định: “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021,T. I, tr.117-118).
Tháng 5-2025, Tổng Bí thư Tô Lâm và Tổng thống Nga Vladimir Putin đã chứng kiến ​​lễ ký kết các văn kiện hợp tác giữa hai nước, nhất trí về định hướng chiến lược tổng thể cho quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga trong kỷ nguyên hợp tác mới; đồng thời, khẳng định cần thiết phải có các dự án chung cụ thể mang tính biểu tượng cho mối quan hệ song phương (Báo Nhân Dân, 11-5-2025). Hai bên nhất trí nâng tầm hợp tác trong các lĩnh vực truyền thống và mở rộng sang các lĩnh vực mới tiềm năng (Nguyễn Thúc, 24-1-2026). Điều đó cho thấy, ngoại giao chính trị đã và đang được vận dụng như công cụ mở đường, tạo hành lang pháp lý và niềm tin chiến lược cho hợp tác kinh tế phát triển thực chất, đúng với tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn kết hữu cơ giữa chính trị và kinh tế trong hoạt động đối ngoại.
Tuy nhiên, đến nay, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam - Liên bang Nga vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và nền tảng chính trị truyền thống tốt đẹp. Hai nước có thế mạnh bổ sung cho nhau, đặc biệt trong các lĩnh vực năng lượng, dầu khí, công nghiệp, nông nghiệp và khoa học - công nghệ nhưng kim ngạch thương mại song phương chưa tương xứng với tiềm năng trong tổng thương mại của mỗi nước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam năm 2025 mới đạt khoảng 920 tỷ USD (Nguyễn Bích Lâm, 6-1-2026). Nguyên nhân xuất phát từ khoảng cách địa lý, chi phí logistics cao, rào cản thanh toán quốc tế, cũng như tác động của các lệnh trừng phạt và biến động thị trường toàn cầu. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu phải nâng cao hiệu quả triển khai các cơ chế hợp tác hiện có, đa dạng hóa phương thức thanh toán, tận dụng các hiệp định thương mại và thúc đẩy kết nối doanh nghiệp. Đây chính là bài toán hiện thực hóa tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh: biến thiện chí chính trị thành lợi ích kinh tế cụ thể, thiết thực.
Thứ tư, nguyên tắc “bình đẳng và cùng có lợi”: giá trị cốt lõi trong hợp tác Việt Nam - Liên bang Nga
Nguyên tắc “bình đẳng và cùng có lợi” được Chủ tịch Hồ Chí Minh xác lập từ rất sớm trong chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 2-9-1955, tại Lễ kỷ niệm Quốc khánh Việt Nam, Người tuyên bố: “Chính sách đối ngoại…tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào nội bộ nhau; bình đẳng và cùng có lợi và cùng sống hòa bình…” (Hồ Chí Minh, 2011,T.10, tr.114). Trong Tuyên bố chung Việt Nam - Liên bang Nga 20-6-2024 khẳng định: Việt Nam và Nga xây dựng quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, các nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, quyền bình đẳng và tự quyết của các dân tộc, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau (Bộ Quốc phòng, 21-6-2024). Trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga, nguyên tắc “bình đẳng và cùng có lợi” được thể hiện rõ trong các thỏa thuận hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư, cũng như trong việc xử lý các vấn đề tồn tại từ thời kỳ trước. Hai bên chủ động đàm phán, điều chỉnh các khuôn khổ hợp tác cho phù hợp với điều kiện mới, bảo đảm hài hòa lợi ích và tăng cường tính bền vững của quan hệ song phương. Nga hiện có khoảng 199 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt 990 triệu USD. Việt Nam có 16 dự án đầu tư tại Nga, với tổng vốn đăng ký đạt 1,6 tỷ USD, đứng thứ 4 trong số 81 quốc gia và vùng lãnh thổ Việt Nam có đầu tư (Báo Nhân dân, 7-5- 2025).
Thứ năm, tư duy linh hoạt, sáng tạo “dĩ bất biến, ứng vạn biến”
Trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, “cái bất biến” là mục tiêu giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc, còn “vạn biến” là phương thức ứng xử linh hoạt, sáng tạo trước những biến động của tình hình thế giới. Tinh thần đó được Đảng kế thừa và phát triển. Đại hội XIII khi nhấn mạnh yêu cầu “Đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của bên ngoài; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước trong từng giai đoạn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021,T.I, tr.135). Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga là minh chứng rõ nét cho sự vận dụng tư duy này.
Trong những năm gần đây, hai nước tiếp tục mở rộng hợp tác sang các lĩnh vực mới như: công nghệ cao, năng lượng sạch, giáo dục đại học, y sinh học và chuyển đổi số, thể hiện khả năng thích ứng với xu thế phát triển của kinh tế tri thức và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam đang tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác năng lượng, an ninh năng lượng trong các khuôn khổ ASEAN, ASEAN+3, APEC… Việt Nam sẵn sàng là cầu nối trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm hợp tác với Nga và các nước trong lĩnh vực này (Báo Nhân Dân, 11-5-2025). 
 Trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, đòi hỏi Việt Nam tiếp tục phát huy tư duy linh hoạt, sáng tạo trong triển khai ngoại giao kinh tế với Nga. Cạnh tranh nước lớn, xung đột khu vực và xu hướng phân mảnh kinh tế toàn cầu, tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga. Trong điều kiện đó, Việt Nam cần xử lý hài hòa giữa mở rộng hợp tác với Nga và duy trì quan hệ ổn định với các đối tác khác; giữa lợi ích kinh tế trước mắt và mục tiêu phát triển bền vững lâu dài; giữa yêu cầu hội nhập sâu rộng và bảo đảm an ninh kinh tế. Điều này đòi hỏi vận dụng sáng tạo tư tưởng “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Hồ Chí Minh: kiên định lợi ích quốc gia, song linh hoạt về phương thức, lĩnh vực và cấp độ hợp tác. Từ đó có thể khẳng định, thách thức hiện nay không chỉ là mở rộng quy mô hợp tác, mà còn là nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của ngoại giao kinh tế Việt Nam – Liên bang Nga trong một môi trường quốc tế nhiều biến động.
Như vậy, sự vận dụng tư tưởng ngoại giao kinh tế của Hồ Chí Minh trong quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga được thể hiện toàn diện, nhất quán và linh hoạt. Quan hệ song phương không chỉ dựa trên nền tảng hữu nghị truyền thống, mà còn được làm mới bằng nội dung hợp tác thực chất, hiệu quả, phù hợp với bối cảnh quốc tế hiện nay, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam và củng cố quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

4. Kết luận
Tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh là bộ phận quan trọng trong di sản tư tưởng của Người và là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc Việt Nam. Với những giá trị cốt lõi như: độc lập, tự chủ, bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; gắn ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và tư duy linh hoạt, sáng tạo trong xử lý quan hệ quốc tế, đã và đang được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng hiệu quả trong thực hiện đường lối đối ngoại Việt Nam - Liên bang Nga.
Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp và yêu cầu phát triển đất nước ngày càng cao, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát huy giá trị tư tưởng ngoại giao kinh tế Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây vừa là sự kế thừa truyền thống tư tưởng ngoại giao của dân tộc, vừa là định hướng đúng đắn cho việc xây dựng đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga trong giai đoạn mới ngày càng đi vào hiệu quả, thực chất, tương xứng với mối quan hệ chính trị truyền thống tin cậy, bền chặt giữa hai dân tộc và hai nhà nước.
 
Tài liệu tham khảo
Báo Nhân dân. (7-5- 2025). Tạo xung lực mới trong hợp tác Việt Nam – Nga trên nhiều lĩnh vực,https://nhandan.vn/tao-xung-luc-moi-trong-hop-tac-viet-nam-nga-tren-nhieu-linh-vuc-post877985.html
 Báo Nhân dân. (11-5-2025).  Lãnh đạo Việt Nam và Nga chứng kiến lễ ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác song phương, https://en.nhandan.vn/vietnamese-russian-leaders-witness-signing-of-numerous-bilateral-cooperation-agreements-post147831.html
Bộ Quốc phòng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. (21-6-2024), Toàn văn Tuyên bố chung Việt Nam – Liên bang Nga, Cổng thông tin điện tử Bộ Quốc phòng, https://www.mod.gov.vn/vn/chi-tiet/sa-ttsk/sa-tt-tn/toan-van-tuyen-bo-chung-viet-nam-lien-bang-nga
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 47Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 4. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 5. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 10. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Hồ Chí Minh. (2011). Toàn tập. Tập 11. Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội
Nguyễn Bích Lâm. (6-1-2026). Xuất, nhập khẩu 2025: Kỷ lục kim ngạch, thách thức chất lượng tăng trưởngBáo điện tử Chính Phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/xuat-nhap-khau-2025-ky-luc-kim-ngach-thach-thuc-chat-luong-tang-truong-119251229082019746.htm
Nguyễn Thúc. (24-1-2026). Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin điện đàm với Tổng Bí thư Tô Lâm. https://hanoimoi.vn/tong-thong-lien-bang-nga-vladimir-putin-dien-dam-voi-tong-bi-thu-to-lam-731186.html
Tạp chí Công thương. (14-1-2025). Tổng Bí thư Tô Lâm: Việt Nam luôn coi Nga là đối tác quan trọng hàng đầuhttps://tapchicongthuong.vn/tong-bi-thu-to-lam--viet-nam-luon-coi-nga-la-doi-tac-quan-trong-hang-dau-132407.htm
Trung Hưng. (29-12-2025). Quan hệ Việt-Nga tiếp tục được củng cố, phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực. https://nhandan.vn/quan-he-viet-nga-tiep-tuc-duoc-cung-co-phat-trien-manh-me-tren-nhieu-linh-vuc-post933779.html
Việt Hằng. (15-1-2025). Việt Nam - Liên bang Nga đẩy mạnh hợp tác thực chất trong các lĩnh vực kinh tế - thương mại. https://tapchicongthuong.vn/viet-nam-lien-bang-nga-day-manh-hop-tac-thuc-chat-trong-cac-linh-vuc-kinh-te-thuong-mai-132414.htm
Vinh Tho – Thanh Hien. (30-12-2025). Việt Nam và Nga đặt mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 15 tỷ USD vào năm 2030. https://news.tuoitre.vn/vietnam-russia-target-15bn-bilateral-trade-by-2030-103251230145044089.htm
Vũ Khuê. (17-2-2025). Xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Nga suy giảm trong tháng đầu năm. https://vneconomy.vn/xuat-nhap-khau-giua-viet-nam-va-nga-suy-giam-trong-thang-dau-nam.htm
TS NGUYỄN THỊ PHÚC, TS NGUYỄN THỊ LỆ THỦY
Trường Đại học Lao động - Xã hội, Học viện Phụ nữ Việt Nam
Email: phuc.hvbc@gmail.com.vn
Chủ tịch Hồ Chí Minh duyệt đội danh dự Quân đội Liên Xô trong lễ đón đoàn đại biểu Chính phủ Việt Namthăm chính thức Liên Xô ngày 12-7-1955 1. Đặt vấn đềTrong hệ thống tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao kinh tế giữ vai trò quan trọng, thể hiện tư duy kết hợp giữa độc lập, tự chủ với mở rộng hợp tác quốc tế, giữa ngoại giao chính trị với phát triển kinh tế, trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi. Những quan điểm đó không chỉ góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mà còn trở thành cơ sở lý luận để Đảng Cộng sản Việt Nam kế thừa và vận dụng trong hoạch định đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới. Trong đường lối đối ngoại của Việt Nam, Liên bang Nga luôn được xác định là một trong những đối t&aa

Tin khác cùng chủ đề

Công tác nghiên cứu, tuyên truyền khẳng định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham ô, lãng phí hiện nay
Giải pháp đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính đáp ứng yêu cầu vận hành chính quyền địa phương 02 cấp trong bối cảnh hiện nay
Từ quan điểm “Dân là gốc” của Hồ Chí Minh đến khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tạo nền tảng cho giai đoạn phát triển mới
Vận dụng quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân ở Việt Nam hiện nay
Nguyên tắc "của dân, do dân, vì dân" trong tư tưởng Hồ Chí Minh và ý nghĩa trong xây dựng chính quyền thời kỳ chuyển đổi số hiện nay

Gửi bình luận của bạn