Đêm 19-12-1946, cùng với Thủ đô Hà Nội, quân và dân tại nhiều đô thị Bắc vĩ tuyến 16 đồng loạt nổ súng đánh giặc, cuộc kháng chiến toàn quốc bắt đầu. Cả dân tộc Việt Nam với lòng yêu nước, ý chí quật cường, nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Chỗ dựa và sức mạnh cơ bản nhất để Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động toàn quốc kháng chiến là khối đại đoàn kết toàn dân, được xây dựng và tôi luyện qua hàng chục thập kỷ đấu tranh, được củng cố và phát triển trên nền tảng xã hội chính trị của chế độ mới khi đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, với quyết tâm “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”.

Toàn quốc kháng chiến và bài học về phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Toàn quốc kháng chiến và bài học về phát huy ý chí, khát vọng, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
 
1. Ý chí, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, được kết tinh trong đường lối kháng chiến của Đảng
Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh vì độc lập gắn liền ý chí thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Các thế hệ người Việt tiếp nối bền bỉ, kiên cường lao động và đấu tranh xây dựng nên cơ đồ, từng bước hình thành nên bản sắc của một quốc gia thống nhất. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, qua đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống ngoại xâm, ý chí độc lập dân tộc, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, trở thành tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Đúng như nhận định của nhà cách mạng, nhà sử học Trần Văn Giàu: “Giá trị truyền thống là một sức mạnh vĩ đại không thể xem thường. Huy động các giá trị truyền thống để làm cách mạng và kháng chiến hiện đại, là huy động sức mạnh của hàng mấy mươi thế kỷ, là mấy mươi thế kỷ tổ tiên ông cha cổ vũ và trợ chiến cho con cháu hoàn thành sự nghiệp dân tộc”1.
Tiếp nối lịch sử chống ngoại xâm trong dòng lịch sử anh hùng của dân tộc, thắng lợi của cách mạng và kháng chiến giành độc lập dân tộc chống thực dân Pháp xâm lược trở thành biểu tượng của ý chí và sức mạnh của một dân tộc có bản lĩnh và bản sắc văn hóa, quyết tâm đoàn kết đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, đập tan ách thống trị hà khắc của chủ nghĩa thực dân, phát xít, lật đổ chế độ phong kiến lỗi thời, lập nên Nhà nước dân chủ nhân dân. Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống nhân nghĩa, hòa hiếu, lại mới giành được độc lập, nên khát vọng cháy bỏng lúc này là tạo dựng môi trường hòa bình để xây dựng đất nước.
Nhưng ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập, thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai. Gây hấn ở Nam Bộ, mở rộng chiến tranh trên toàn lãnh thổ Việt Nam và tiếp tục chính sách chia để trị, chúng lập ra cái gọi là Chính phủ cộng hòa Nam Kỳ tự trị (6-1946), xúc tiến thành lập “Xứ Tây Kỳ tự trị”2, triệu tập hội nghị Liên bang Đông Dương (8-1946)3; tiếp đó năm 1947, lập ra xứ Thái, xứ Mường và xứ Nùng tự trị; năm 1949, dựng lên Chính phủ Quốc gia Việt Nam4. Với mưu toan xâm lược, thực dân Pháp khước từ mọi thiện chí của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, liên tiếp phá vỡ những cơ hội có thể tìm ra giải pháp hòa bình cho Việt Nam. Nhân dân Việt Nam phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc.
 Sáng suốt phân tích, đánh giá tình hình, Đảng khẳng định: “Kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vào chúng”5, đề ra đối sách thích hợp, tranh thủ thời gian hoà hoãn, để củng cố, phát triển thực lực cách mạng. Trong thời gian từ tháng 8-1945 đến tháng 12-1946, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh ra nhiều quyết sách quan trọng. Những vấn đề cơ bản về tư tưởng chỉ đạo và đường lối kháng chiến dần được hình thành qua Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” ngày 25-11-1945; văn kiện “Công việc khẩn cấp bây giờ” ngày 5-11-1946 và được hoàn chỉnh tại Hội nghị Thường vụ Trung ương Đảng (mở rộng) ngày 17 và 18-12-1946, trong Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Thường vụ Trung ương Đảng, được cụ thể hoá và phổ biến rộng rãi trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nội dung cốt lõi của đường lối và tư tưởng chỉ đạo kháng chiến là “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính”.
Những công việc có tầm chiến lược đã được xúc tiến khẩn trương: xây dựng chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội, lập Chính phủ chính thức, thông qua Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946. Kiện toàn về hành chính và tổ chức lại chiến trường trên phạm vi cả nước nhằm chỉ đạo kháng chiến một cách tập trung, thống nhất, đồng thời phát huy tối đa khả năng độc lập tác chiến của từng địa phương. Phát triển lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang, chuẩn bị căn cứ  kháng chiến. Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam thành lập (5-1946) nhằm “mục đích đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước và các đồng bào yêu nước vô đảng phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc để làm cho nước Việt Nam: độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường”6. Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam ra đời là một bước tiến mới của khối đại đoàn kết dân tộc. Sự liên hiệp quốc dân Việt Nam “không phải chỉ liên hiệp ở trong Chính phủ, mà còn liên hiệp ở quảng đại quần chúng nhân dân”7, nơi tập hợp sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhằm thực hiện thắng lợi đường lối kháng chiến kiến quốc.
Thực tiễn lịch sử năm 1945-1946 cho thấy, nhân dân ta đã kiềm chế, đã nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rằng, chúng ta cần hòa bình để xây dựng nước nhà, cho nên chúng ta đã ép lòng mà nhân nhượng để giữ hòa bình. Độc lập, thống nhất cũng chính là ngọn cờ để tập hợp lực lượng toàn dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế, chống kẻ thù xâm lược. Đến tháng 12-1946, trước những yêu sách mà thực chất là “tối hậu thư” của phía Pháp, ta không còn nhân nhượng được nữa nhân nhượng nữa là phạm đến chủ quyền của nước, là hại đến quyền lợi cao trọng của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Trung ương Đảng và Chính phủ đã kiên quyết phát động toàn dân kháng chiến. Khi khả năng hòa hoãn không còn, trên cơ sở thế và lực đã chuẩn bị, Đảng kiên quyết phát động cuộc kháng chiến toàn quốc với khí phách: Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.
 
2. Khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, gắn kết toàn dân tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc
Sức mạnh chính trị - tinh thần được phát huy cao độ, như nguyên tắc xây dựng Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 nêu rõ: Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn giáo. Đảm bảo các quyền tự do dân chủ. Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân8, là cơ sở pháp lý cao nhất cho khối đoàn kết thống nhất quốc gia dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc. Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiến hành cuộc kháng chiến, huy động sức mạnh toàn dân, tự nguyện, tự giác tham gia vào mọi công việc của cuộc kháng chiến.
Khi thực dân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn ngày 23-9-1945, với tinh thần kiên quyết bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc vừa mới giành được, quân và dân Sài Gòn - Chợ Lớn nhất tề vùng lên chiến đấu, đánh trả quân xâm lược bằng mọi thứ vũ khí có trong tay. Cuộc chiến đấu ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Đông Bắc Bộ... đã để lại nhiều kinh nghiệm quý để Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn quốc kháng chiến.
Chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc kháng chiến chống xâm lược, từ cuối năm 1946, quân dân Hà Nội và các địa phương trên cả nước khẩn trương di chuyển cơ quan, kho tàng, máy móc, nguyên vật liệu và các vật tư, nhu yếu phẩm đến những nơi an toàn và lên chiến khu. Trong quá trình xây dựng các căn cứ, cán bộ của các tỉnh, huyện xuống các xã động viên, tổ chức, động viên nhân dân góp công, góp của. Ở Việt Bắc, nhân dân ủng hộ hàng vạn cây tre, gỗ, hàng triệu tàu lá cọ và hàng vạn ngày công để xây dựng nơi ở, làm việc, kho tàng, nhà xưởng cho các cơ quan. Nhân dân tăng gia sản xuất để có lương thực thực phẩm cung cấp cho kháng chiến. Tại an toàn khu Định Hóa, ban ngày nhân dân vào rừng chặt tre, nứa, lá làm lán trại, dựng nhà ở, nhà kho, thi đua tăng gia sản xuất. Ban đêm, người dân tham gia đoàn thể cứu quốc học bình dân học vụ, sinh hoạt đoàn thể, bàn bạc công việc kháng chiến9.
Lực lượng bảo vệ quan trọng nhất, tin cậy nhất ở căn cứ là nhân dân. Đồng bào các dân tộc tạo thành mạng lưới an ninh nhân dân rộng khắp, che chở, đùm bọc cán bộ. Hàng vạn đồng bào, chiến sĩ dân quân, du kích các dân tộc ở căn cứ trở thành “hàng rào thép” bảo vệ tuyệt đối an toàn Chính phủ kháng chiến. Được nhân dân tận tình giúp đỡ, với tinh thần dũng cảm, mưu trí, vượt qua gian khó, cán bộ, công nhân đã vận chuyển hàng vạn tấn máy móc, nguyên vật liệu tới các căn cứ địa.
Sức mạnh đoàn kết toàn dân thể hiện rõ trên khắp các chiến khu, các địa bàn, từ công nhân, nông dân, trí thức đến các tầng lớp nhân dân yêu nước. Những vị thân sĩ lão thành, tuổi cao sức yếu như Bùi Bằng Đoàn, Phan Kế Toại, Nguyễn Văn Tố, những trí thức vốn không quen sống ở vùng thôn dã, núi rừng như Nguyễn Văn Huyên, Phan Anh, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước, Hồ Đắc Di... với tinh thần kháng chiến của cả dân tộc, vượt qua chặng đường gian nan lên căn cứ tham gia cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ, tự lực cánh sinh của dân tộc.
Hàng chục ngàn tấn gạo, muối, máy móc, nguyên vật liệu đã được vận chuyển lên chiến khu trong hoàn cảnh khó khăn, hiểm nguy, phần lớn bằng những phương tiện thô sơ: ô tô, thuyền, bè mảng, xe bò, xe trâu, ngựa thồ, xe quệt.., được nhân dân giúp đỡ, cất giấu an toàn. Ngành Quân nhu chuyển được 2,5 triệu mét vải, 3.000 bao tải bông từ Hòa Bình lên Việt Bắc10. 20.000 tấn muối, nhu yếu phẩm đặc biệt quan trọng, được vận chuyển từ Văn Lý (Nam Định) lên Việt Bắc và Tây Bắc trước khi thực dân Pháp mở rộng đánh chiếm miền duyên hải. Muối từ Văn Lý được chuyển lên Lào Cai, Sơn La, Hà Giang, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Cao Bằng, phân phối trong dân và các kho dự trữ của Bộ Tài chính11. Ở Nam Bộ, quân dân tiếp tục vận chuyển lương thực vào các căn cứ. Từ khu V trở ra, toàn ngành quân giới đã vận chuyển tới 19.000 tấn máy móc nguyên liệu lên các căn cứ12.
Một khối lượng lớn các tài sản quốc gia phục vụ cho hoạt động của đất nước được chuyển ra khu an toàn. Cuộc tổng di chuyển là một kỳ tích của chiến tranh nhân dân, trong hoàn cảnh nước nhà vừa giành độc lập, chính quyền dân chủ nhân dân còn non trẻ, tiềm lực kinh tế còn rất hạn chế. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định: “chúng ta đã thực hiện một cuộc “thiên đô” hiếm có trong lịch sử chiến tranh. Sau ba tháng chiến đấu tại Hà Nội với những thất bại nặng nề, quân Pháp chỉ chiếm được những đường phố chết. Không người. Không điện, không nước... Chính Xalăng đã phải thốt lên: Hà Nội trở thành một khoảng không hầu như tuyệt đối”13.
Cho đến trước khi Trung đoàn Thủ đô rút khỏi Hà Nội, Chính phủ Trung ương và bộ máy của các bộ vẫn đóng ở các vùng an toàn gần Hà Nội. Sự chỉ đạo các chiến trường trong cả nước vẫn được giữ vững. Cũng tại đó, hai cuộc hội nghị quan trọng14 đã được triệu tập nhằm phát hiện và giải quyết kịp thời những vấn đề ở tầm chiến lược cả về quân sự và chính trị do thực tế những ngày đầu kháng chiến đặt ra.
Chủ động mở đầu toàn quốc kháng chiến ở Thủ đô và các thành phố, thị xã, nơi địch đóng quân và đang ráo riết chuẩn bị mở rộng chiến tranh ra cả nước, đã gây cho địch bất ngờ lớn, làm cho chúng mất thế chủ động ban đầu, làm thất bại kế hoạch, nhất là ý đồ chụp bắt cơ quan đầu não, tiêu diệt lực lượng vũ trang, đánh chiếm Thủ đô. Đồng thời, ta còn huy động được sức người, sức của tại chỗ và của các địa phương, những vùng chưa có địch để chi viện cho mặt trận. Quân và dân các đô thị Bắc vĩ tuyến 16 đã chiến đấu quyết liệt, gây nhiều tổn thất cho địch, đồng thời đều có phương án rút lui bảo toàn lực lượng. Cuộc chiến đấu ở Huế kéo dài 50 ngày, Đà Nẵng là 1 tháng, cuộc chiến đấu của quân và dân Nam Định kéo dài ba tháng...
Sức mạnh cực kỳ to lớn của chiến tranh nhân dân bước đầu phát huy tác dụng. Mặt trận Hà Nội cuối năm 1946 đầu năm 1947 đã vận dụng tốt kinh nghiệm bao vây địch trong thành phố, sau đó, để bảo toàn lực lượng tiếp tục kháng chiến lâu dài, ta đã kịp thời rút chủ lực, đồng thời phát động chiến tranh du kích rộng khắp, ngay cả trong lòng địch. Đồng bào và chiến sĩ Thủ đô kiên cường chiến đấu giam chân địch suốt hai tháng, vư­ợt yêu cầu thời gian mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng giao cho Hà Nội. 
Cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội là hình ảnh tuyệt vời của truyền thống “cả nước đánh giặc, toàn dân ra trận”. Trong chiến đấu ác liệt hy sinh, các đội quyết tử quân ra đời làm lễ tuyên thệ “Sống chết với Thủ đô”, “Thề quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ngày 27-1-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư gửi các chiến sĩ quyết tử quân Thủ đô: “Các em là đội cảm tử, các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn, tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại... Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”15.
Cuộc chiến đấu của quân dân Hà Nội là bức tranh sinh động, ngay từ đầu đã cụ thể hoá Lời kêu gọi thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”16. Chủ động mở đầu kháng chiến, nêu cao tinh thần “cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, cuộc chiến đấu anh dũng ở Thủ đô đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần kháng chiến của cả nước vì độc lập, tự do.
Theo Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng triệu đồng bào các tôn giáo đã lên đường “đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến” từ sau ngày 23-9-1945 và sau ngày 19-12-1946. Hàng vạn đồng bào Công giáo đã lên đường kháng chiến, những tấm gương công giáo yêu nước như Ngô Tử Hạ, Hồ Thành Biên, Nguyễn Mạnh Hà, Phạm Bá Trực, Vũ Xuân Kỷ. Trong những tháng đầu năm 1947, đồng bào Công giáo, Phật giáo tản cư ra các huyện ngoại thành Hà Nội và các thành phố lớn, về các vùng chưa bị địch chiếm đóng, đã sớm tham gia các công việc kháng chiến ở địa phương (đào hào chữ chi trên quốc lộ số 6, hạ đốn cây ngăn xe địch...). Đa số đồng bào theo các tôn giáo bản địa và các tín ngưỡng truyền thống cũng có nhiều biến đổi tích cực, đáp ứng kịp thời yêu cầu kháng chiến. Hàng vạn tín đồ Cao Đài, Hòa Hảo là thành viên Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt, góp phần vào việc xây dựng căn cứ kháng chiến ở các vùng Đồng Tháp Mười, Tây Ninh... Nhiều tín đồ của các giáo phái Bình Xuyên trở thành bộ đội và sĩ quan của cách mạng.
Khi thực dân Pháp quay trở lại xâm lược Nam Bộ, kiều bào ở Lào, Thái Lan, Campuchia tỏ rõ tinh thần đoàn kết, lòng yêu nước, sẵn sàng tham gia đóng góp vật chất cho Chính phủ. Việt kiều ở Thái Lan đã thành lập các chiến khu, tập luyện quân sự chuẩn bị cho việc đưa lực lượng về nước trực tiếp chiến đấu. Bộ đội “Việt kiều giải phóng quân” được triệu tập lại. Vùng Đông Bắc Thái Lan và dọc biên giới Thái Lan - Campuchia, chỉ trong thời gian ngắn, đã thành lập được 13 chiến khu, trung bình mỗi chiến khu có từ 70 đến 150 người. Tổng quân số 13 chiến khu lên đến 2.000 người17. Từ tháng 8-1946 đến tháng 12-1946, bốn đơn vị Việt kiều “Bộ đội độc lập số 1”, “Bộ đội Quang Trung”, “Chi đội Trần Phú” và “Tiểu đoàn Hải ngoại Cửu Long 2” đã bí mật vượt qua đất nước Campuchia, băng qua rừng Lào về sát cánh cùng nhân dân Nam Bộ kháng chiến. Những đoàn quân Việt kiều đã trực tiếp cầm súng chiến đấu trên các chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Riêng số kiều bào tham gia “Việt kiều giải phóng quân” đã lên đến 5.000 người18.
Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát huy cao độ chủ nghĩa dân tộc truyền thống, chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người Việt Nam, làm cho cả dân tộc đứng lên kháng chiến với một ý thức chính trị tự giác, một lập trường kiên định vì độc lập, tự do. Ưu thế tinh thần chính trị, lợi thế duy nhất của quân và dân Việt Nam đã biến thành sức mạnh vật chất. Cuộc kháng chiến toàn quốc trải qua một năm, quân và dân ta phá tan âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, đánh dấu bằng thắng lợi tại Việt Bắc ngày 22-12-1947, giữ gìn và phát triển lực lượng vũ trang cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Trong tình thế bị kẻ thù tiến công xâm lược và trong tình hình so sánh lực lượng thua kém địch, quân và dân ta đã giành chủ động trong hành động quân sự mở đầu, chủ động về thời gian, mục tiêu, lực lượng và phương thức tiến công địch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết: “Sau này nhìn lại mới biết ngày đầu toàn quốc kháng chiến chúng ta đã làm một điều mà theo nhiều nhà lý luận quân sự kinh điển thì khó mà làm được”19... Trong khi quân Pháp đã sẵn sàng về lực lượng, kế hoạch tiến công, thì: “Điều bất ngờ đối với họ chỉ ở chỗ: lẽ nào một đội quân non trẻ với những trang bị yếu kém lại dám nổ súng vào quân viễn chinh? Đó là một lợi thế duy nhất mà ta giành được khi khởi đầu chiến tranh trên cả nước”20. Ngày 25-12-1946, trong điện gửi Đô đốc Đácgiăngliơ, Xanhtơny chua chát thừa nhận: “Cuộc kháng chiến của Việt Minh - Tôi nói Việt Minh - kiên trì và dẻo dai hơn nhiều so với mức độ dự kiến của chúng ta... sau 5 ngày chiến đấu mới đụng đến một vài mục tiêu mà đáng lẽ chỉ vài tiếng đồng hồ thôi cũng đủ để giải phóng. Con số rất đông các đội quân tự vệ tập trung ẩn náu trong khu phố người An Nam đặt ra một vấn đề vô cùng khủng khiếp”21.
Độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc là khát vọng, ý chí của toàn dân tộc Việt Nam suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Truyền thống văn hóa Việt Nam là chuộng hòa hợp, khoan dung, hòa hiếu, tự tôn, tự hào dân tộc, nhưng khi đã buộc phải cầm vũ khí chiến đấu, người Việt Nam sẽ chiến đấu đến cùng. Thắng lợi của cuộc toàn quốc kháng chiến là kết quả hợp thành của những nhân tố cơ bản đó và nhân lên sức mạnh tổng hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đường lối cách mạng của Đảng là sự kết tinh giá trị dân tộc và thời đại, ý Đảng lòng dân. Đó là thắng lợi lịch sử của toàn dân tộc, của cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược.
Những bài học kinh nghiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo mở đầu kháng chiến ở Thủ đô và các đô thị, trong đó bài học về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy cao độ yếu tố chính trị tinh thần, sức sáng tạo của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ, không chỉ có ý nghĩa quan trọng trong chiến tranh cách mạng mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đại hội lần thứ XIII (2021) của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam”22. Về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, Đảng nêu rõ: “Phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ của cộng đồng quốc tế”23. Thắng lợi của toàn quốc kháng chiến là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng là nhân tố cơ bản tạo nên sức mạnh Việt Nam, bản sắc văn hóa giữ nước Việt Nam mà nền tảng là lòng yêu nước; các nhân tố đó là sức mạnh bảo đảm cho sự thành công của công cuộc xây dựng Tổ quốc Việt Nam XHCN vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

  
 
 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in), số 12/2021
1. Trần Văn Giàu: “Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam”, in trong Trần Văn Giàu Tuyển tập, Nxb Giáo dục, H, 2000, tr. 302
2. Mục tiêu lôi kéo đồng bào Tây Nguyên chống lại kháng chiến
3. Gồm đại diện tay sai của thực dân Pháp ở Nam Kỳ, Lào và Campuchia
4. Chính phủ Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu, Bảo Đại trở thành một giải pháp chính trị quan trọng theo những toan tính khác nhau của cả Pháp và Mỹ ở Việt Nam
5, 6, 7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 8, tr. 26, 69, 70
8. Tuyên ngôn độc lập năm 1945 và các Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992, 2013), Nxb CTQG, H. 2015, tr.12
9. Ban Chấp hành Huyện ủy Định Hoá: Lịch sử Đảng bộ huyện Định Hoá (1930-2000), Huyện ủy Định Hóa xuất bản, 2000, tr. 141-142
10. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị: Tổng kết cuộc kháng chiến chống Pháp, thắng lợi và bài học, Nxb CTQG, H, 1996, tr.103
11. Lịch sử Biên niên Đảng cộng sản Việt Nam, tập III, Đảng lãnh đạo kháng chiến và kiến quốc (1945-1954), Nxb CTQG, H, 2009, tr. 139
12. Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia: Viện Kinh tế học: Đặng Phong: Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, tập I, 1945-1954, Nxb KHXH, H, 2002, tr. 238
13, 19, 20. Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Chiến đấu trong vòng vây, Hồi ức, Hữu Mai thể hiện, Nxb QĐND - Nxb Thanh niên, H, 1995, tr. 104-105, 29, 42-43
14. Hội nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất từ ngày 12 đến  ngày 16-1-1947; Hội nghị Quân ủy Trung ương mở rộng từ ngày 14 đến ngày 16-2-1947
15, 16. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T.5, tr. 44, 534
17. Trần Đình Lưu: Việt kiều Lào - Thái với quê hương, Nxb CTQG, H, 2004, tr. 142
18. Hoàng Thanh Quang: “Việt Nam độc lập quân”, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 4-2000, tr. 36
21. Philíp Đờvile: Pari - Sài Gòn - Hà Nội, Nxb Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, 1993, tr. 418-419
22, 23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 110, 155.
PGS, TS TRỊNH THỊ HỒNG HẠNH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
  1. Ý chí, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam, cội nguồn sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, được kết tinh trong đường lối kháng chiến của ĐảngLịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử đấu tranh vì độc lập gắn liền ý chí thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia. Các thế hệ người Việt tiếp nối bền bỉ, kiên cường lao động và đấu tranh xây dựng nên cơ đồ, từng bước hình thành nên bản sắc của một quốc gia thống nhất. Từ thế hệ này qua thế hệ khác, qua đấu tranh chinh phục thiên nhiên và chống ngoại xâm, ý chí độc lập dân tộc, quyết tâm bảo vệ Tổ quốc, trở thành tài sản tinh thần vô giá của dân tộc. Đúng như nhận định của nhà cách mạng, nhà sử học Trần Văn Giàu: “Gi&aacute

Tin khác cùng chủ đề

Nâng cao chất lượng tuyên truyền giáo dục lịch sử Đảng trong giai đoạn hiện nay
Công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị trong quá trình vận động Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và một số kinh nghiệm
Phát huy bài học về đại đoàn kết dân tộc trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới
Bước phát triển về quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945
Nhận thức của Đảng đối với việc tranh thủ sự giúp đỡ của quốc tế trong những năm 1968-1973
Quyết tâm khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng đối với cuộc khởi nghĩa

Gửi bình luận của bạn