- Bởi Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy Khánh Hòa
- 01/06/2026 08:29:27
- 21 lượt xem
- 0 lượt thích
- 0 bình luận
Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, việc nhận định đúng tình hình thế giới, dự báo chính xác thời cơ và chủ động chuẩn bị về mọi mặt giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với thắng lợi của cách mạng. Trong giai đoạn 1939-1945, trước những biến động sâu sắc của tình hình thế giới do Chiến tranh thế giới II gây ra, đặc biệt là sự suy yếu của chủ nghĩa thực dân Pháp, sự mở rộng chiến tranh của phát xít Nhật ở Đông Dương và sự chuyển biến mạnh mẽ của phong trào cách mạng thế giới, Đảng Cộng sản Đông Dương đã từng bước điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện đường lối cách mạng phù hợp với yêu cầu lịch sử mới.
Trong bối cảnh đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5-1941) do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chủ trì có ý nghĩa bước ngoặt đối với cách mạng Việt Nam. Hội nghị không chỉ hoàn chỉnh sự thay đổi chiến lược, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, năng lực phân tích và dự báo chính trị sắc bén của Đảng trong việc đánh giá cục diện chiến tranh thế giới, nhận diện khả năng xuất hiện thời cơ cách mạng và xác định phương hướng chuẩn bị lực lượng khởi nghĩa. Những quyết định của Hội nghị đã mở đường cho sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng cả nước, tạo tiền đề trực tiếp cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vì vậy, nghiên cứu HNTƯ 8 (5-1941) dưới góc độ nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ và chuẩn bị lực lượng có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ sự phát triển tư duy chiến lược của Đảng cũng như những bài học lịch sử về lãnh đạo cách mạng trong bối cảnh mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin để phân tích quá trình nhận thức, bổ sung và phát triển đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng trong bối cảnh lịch sử cụ thể giai đoạn 1939-1945. Phương pháp lịch sử và logic được sử dụng chủ đạo để tái hiện bối cảnh quốc tế, trong nước, đồng thời làm rõ quá trình hình thành những nhận định chiến lược của HNTƯ 8 (5-1941) về thời cuộc và thời cơ cách mạng.
Bên cạnh đó, bài viết kết hợp phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu tư liệu nhằm hệ thống hóa các văn kiện của Đảng, các công trình nghiên cứu lịch sử và hồi ký liên quan để luận giải những nội dung cốt lõi của Hội nghị, đặc biệt là chủ trương thay đổi chiến lược, xây dựng lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang và chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Phương pháp liên ngành lịch sử - chính trị cũng được vận dụng nhằm đánh giá ý nghĩa lý luận và thực tiễn của HNTƯ 8 (5-1941) đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và đối với tiến trình phát triển tư duy lãnh đạo cách mạng của Đảng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nhận định, đánh giá sự chuyển biến của thời cuộc, dự báo chuẩn xác về thời cơ, chủ động nắm bắt thời cơ
Những năm cuối thập niên 30 đầu thập niên 40 thế kỷ XX, tình hình thế giới và trong nước có những chuyển biến quan trọng. Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan. Hai ngày sau, ngày 3-9, Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới II bùng nổ, đẩy loài người vào cuộc chiến tranh khốc liệt chưa từng có trong lịch sử. Đầu năm 1941, Chiến tranh Thế giới II lan rộng, lôi cuốn nhiều dân tộc trên thế giới tham gia. Ngày 10-6-1940, quân Đức ồ ạt tấn công nước Pháp, ngày 14-6-1940, thủ đô Paris bị chiếm đóng, ngày 22-6-1940, Chính phủ Pêtanh ký hiệp định đình chiến, thực chất là một hiệp định "đầu hàng có điều kiện" với Đức. Việc Pháp đầu hàng phát xít Đức là một biến cố lịch sử đặc biệt, có tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến diễn trình các xứ thuộc địa Pháp, trong đó có Đông Dương.
Ngay khi chiến tranh thế giới nổ ra (9-1939), ở Đông Dương, thực dân Pháp phát xít hóa bộ máy cai trị, quân nhân hóa bộ máy thống trị (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 105), khủng bố phong trào đấu tranh, thủ tiêu mọi quyền tự do, dân chủ mà nhân dân Việt Nam giành được trong những năm 1936-1939. Ở châu Á, phát xít Nhật mở rộng chiến tranh ở Thái Bình Dương, trong đó có chủ trương “Nam tiến”, tràn xuống khu vực Đông Nam Á để tận dụng thời cơ tước đoạt các thuộc địa của Anh, Pháp và Hà Lan. Ngày 22-9-1940, quân đội Nhật vượt biên giới Việt Nam -Trung Quốc, tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23-9-1940, tại Hà Nội, Pháp ký Hiệp định đầu hàng Nhật, đồng thời cấu kết với quân Nhật, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Đông Dương.
Trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam trước khi rời Trung Quốc, Người luôn chú tâm theo dõi các diễn biến mới của Chiến tranh thế giới II, tìm hiểu rõ về âm mưu “Hoa quân nhập Việt” của Trung Hoa dân quốc, về tình hình các nhóm người Việt đang hoạt động ở Hoa Nam và đặc biệt tìm hiểu tình hình cách mạng trong nước, nung nấu, dự kiến những quyết sách chiến lược mới đưa cách mạng Việt Nam tiến lên trong giai đoạn quyết định (Đinh Xuân Lâm (chủ biên), 2016, tr. 718).

Mốc 108 biên giới Việt - Trung, địa điểm lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, ngày 28-1-1941
Trong bối cảnh quốc tế và trong nước chuyển biến nhanh chóng, ngày 28-1-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Người lựa chọn Cao Bằng làm nơi trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ cách mạng và chuẩn bị cho sự ra đời của Việt Nam Độc lập đồng minh (Mặt trận Việt Minh), đây là một quyết định mang tính chiến lược sâu sắc. Tại Cao Bằng, Người bắt tay xây dựng cơ sở cách mạng, tổ chức quần chúng, tiến hành chuẩn bị cho Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Với tư cách là đại diện của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì Hội nghị BCHTƯ (họp từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941) tại Khuổi Nặm làng Pác Bó, xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng (nay là xã Trường Hà, tỉnh Cao Bằng). Hội nghị đã phân tích sâu sắc tình hình thế giới, nguồn gốc, diễn biến chính, những đặc điểm của cuộc Chiến tranh thế giới II.
Trong giai đoạn này, vấn đề nhận định thời cuộc, đánh giá thời cơ cách mạng được Đảng đặc biệt chú trọng. Ngay sau khi Chiến tranh thế giới II nổ ra, ngày 29-9-1939, Trung ương Đảng đã ra Thông cáo cho các đồng chí cấp bộ, nhận định: “Hoàn cảnh Đông Dương sẽ tiến bước đến vấn đề dân tộc giải phóng, hoàn toàn vấn đề ấy mau hay chậm là tùy theo tình hình thế giới và năng lực của các đồng chí” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.6, tr. 756). Đây là một nhận định vô cùng quan trọng, báo hiệu sự thay đổi chiến lược cách mạng của Đảng trong tình hình mới. Trung ương Đảng chỉ rõ hai yếu tố chủ quan (năng lực vận động của bản thân Đảng) và khách quan (tình hình thế giới) tác động tới vận mệnh dân tộc.
Hội nghị BCHTƯ (11-1939) sau khi phân tích tình hình quốc tế và Đông Dương, đã đi đến một nhận định quan trọng: “Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng độc lập. (...). Sự bóc lột tàn ác của đế quốc Pháp ở Đông Dương để cung cấp cho chiến tranh sẽ làm cho dân Đông Dương ngày càng cách mệnh hóa. Cuộc cách mệnh đánh đổ đế quốc Pháp của các dân tộc Đông Dương nhất định sẽ nổ bùng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.6, tr. 536-537).
Tiếp đó, HNTƯ 8 (5-1941) đánh giá hậu quả và dự báo về chiều hướng phát triển cuộc Chiến tranh thế giới thứ II: “cuộc đế quốc chiến tranh lần này gây ra bởi sự mâu thuẫn quá sâu sắc giữa các đế quốc. (...) đem đến một tai hại thứ nhất là giết hại nhân loại, lại còn đem lại một hậu quả thứ hai là tụi đế quốc tự giết nhau, tự tiêu hao lực lượng nhau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.99-100). Hội nghị đánh giá về phong trào cách mạng trên thế giới: nếu cuộc đế quốc chiến tranh càng dữ dội, càng tiến triển mau thì phong trào cách mạng càng do đó mà bành trướng mau lẹ ở châu Âu, châu Phi, châu Á, châu Mỹ.
Về tình hình Đông Dương, Hội nghị phân tích kỹ các chính sách, thủ đoạn đàn áp, bóc lột của thực dân Pháp và phát xít Nhật, xác định rõ kẻ thù của cách mạng Đông Dương là đế quốc phát xít Pháp - Nhật. Hội nghị cũng đi sâu phân tích tình cảnh và thái độ của các giai tầng trong xã hội Đông Dương, nhận diện một số xu hướng, phong trào chính trị - xã hội và đảng phái mới xuất hiện. Hội nghị nhận định về sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng, đặc biệt là khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ, binh lính Đô Lương. Từ đó, Hội nghị đi đến kết luận quan trọng: “Đế quốc Pháp - Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 112).
Hội nghị nhận định: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 113). Hội nghị khẳng định: “Cuộc cách mạng Đông Dương là một bộ phận cách mạng thế giới và giai đoạn hiện tại là một bộ phận dân chủ chống phát xít” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 114). Vận mệnh của Đông Dương gắn liền với vận mệnh của Liên Xô; đồng thời, cũng gắn liền với cách mạng Trung Quốc. Hội nghị nhận định “Tình hình thế giới sẽ biến chuyển ghê gớm làm cho tình hình Đông Dương thay đổi, có lợi cho cách mạng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 131).
Hội nghị đưa ra nhận định khoa học sắc bén: thời cơ sẽ đến với nhiều nước trên thế giới khi chiến tranh thế giới kết thúc, phần thắng thuộc về Liên Xô và phe dân chủ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.130,131); “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.100).
Nhận định này là một phán đoán chiến lược vô cùng sắc bén, táo bạo và hoàn toàn chính xác về cục diện, xu hướng diễn biến của tình hình thế giới, giúp cho Đảng xác định đúng phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đó là một khả năng làm xuất hiện thời cơ có lợi cho cách mạng nhiều nước, trong đó có cách mạng Việt Nam.
Từ những phân tích, nhận định sâu sắc, nhạy bén trên đây, HNTƯ 8 (5-1941) đã đi đến quyết định Đảng “Cần phải thay đổi chiến lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.118), tập trung vào nhiệm vụ cần kíp “dân tộc giải phóng”. “Sự thay đổi về kinh tế, chính trị Đông Dương, sự thay đổi thái độ, lực lượng các giai cấp Đông Dương buộc Đảng phải thay đổi chính sách cách mạng ở Đông Dương cho hợp với nguyện vọng chung của toàn thể nhân dân..., cho hợp với tình hình thay đổi”. “Đảng ta phải có một chính sách cách mạng thích hợp với tình trạng ấy, mới chỉ dẫn cuộc cách mạng đến thắng lợi chắc chắn được” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.118). “Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương hợp với nguyện vọng chung của tất cả nhân dân Đông Dương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.118-119). Hội nghị là bước kế thừa và phát triển, hoàn thiện quan điểm của HNTƯ (11-1939). Đây là một quyết định tác động trực tiếp và toàn diện đến quá trình chuẩn bị với tinh thần chủ động, tích cực của toàn Đảng cho công cuộc đấu tranh giành chính quyền.
3.2. Khẳng định chuẩn bị sẵn sàng về nội lực là yếu tố, điều kiện tiên quyết để chớp thời cơ khởi nghĩa giành thắng lợi
Một trong những nội dung mà HNTƯ 8 (5-1941) tập trung thảo luận chính là vấn đề khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền. Đây là lần đầu tiên vấn đề này được đưa vào chương trình nghị sự của một hội nghị Trung ương của Đảng. Trên cơ sở phân tích diễn biến cuộc Chiến tranh thế giới II và tình hình trong nước, Hội nghị đã đi tới các phán đoán tài tình về kết cục của cuộc Chiến tranh thế giới II và đặc biệt là về cuộc chiến ở khu vực Thái Bình Dương với chiến thắng thuộc về phe Đồng minh và thất bại không tránh khỏi của Nhật Bản và phe Trục. Kết quả là: “Lúc ấy cả thế giới như một nồi nước sôi và tình hình cách mạng Đông Dương bước những bước vĩ đại để dọn đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa mạnh mẽ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 131); “Cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 129). Do đó, nhiệm vụ của những người cộng sản và của toàn dân tộc Việt Nam là phải kiên trì và tích cực chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa.
Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của cách mạng trong giai đoạn hiện tại. Muốn cuộc khởi nghĩa vũ trang thắng lợi phải có đủ những điều kiện khách quan và chủ quan, phải chọn đúng thời cơ cách mạng. Những điều kiện đó là:
1.Mặt trận cứu quốc đã thống nhất được toàn quốc.
2.Nhân dân không thể sống được nữa dưới ách thống trị của Pháp-Nhật, mà đã sẵn sàng hy sinh bước vào con đường khởi nghĩa.
3.Phe thống trị Đông Dương đã bước vào cuộc khủng hoảng phổ thông đến cực điểm vừa về kinh tế, chính trị lẫn quân sự.
4.Những điều kiện khách quan tiện lợi cho cho cuộc khởi nghĩa Đông Dương như quân Tàu đại thắng quân Nhật, Cách mạng Pháp hay Cách mạng Nhật nổi dậy, phe dân chủ đại thắng ở Thái Bình Dương, Liên Xô đại thắng, cách mạng các thuộc địa Pháp, Nhật sôi nổi và nhất là quân Tàu hay quân Anh - Mỹ tràn vào Đông Dương...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 129-130).
Đối với điều kiện chủ quan, muốn có một lực lượng toàn quốc đủ sức thực hiện và củng cố thắng lợi của cuộc khởi nghĩa thì Đảng phải: mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng khởi nghĩa; mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền; mở rộng tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu và dân tộc thiểu số; đào luyện cho các đảng viên cộng sản có một tinh thần cương quyết hy sinh; đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế; phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 130).
Từ kinh nghiệm các cuộc khởi nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, căn cứ vào tình thế biến chuyển nhanh chóng, tạo điều kiện khách quan cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, Đảng chủ trương phải phát huy tính tích cực, chủ động, cách mạng, phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng khi thời cơ đến. Hội nghị yêu cầu: “phải luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù, nghĩa là nay mai đây cuộc chiến tranh Thái Bình Dương và cuộc kháng chiến của nhân dân Tàu xoay ra hoàn toàn cho cuộc cách mạng Đông Dương thắng lợi, thì lúc đó với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo một cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương, cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 131-132).
Đảng chủ trương động viên, tổ chức và đoàn kết lực lượng của toàn dân trong Mặt trận Việt Minh, với những chính sách hiệu triệu, giải quyết hài hòa lợi ích tối cao của dân tộc và quyền lợi thiết thực của các tầng lớp xã hội, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần dân tộc. Mặt trận Việt Minh tuyên truyền, cổ động mở rộng các Hội Cứu quốc trong các giai cấp, tầng lớp nhân dân, thu hẹp lực lượng chống đối và lừng chừng, tạo nên một lực lượng chính trị hùng mạnh.
Mặt trận Việt Minh là sự cụ thể hóa đường lối của Đảng trong mở rộng tập hợp lực lượng toàn dân tộc, xây dựng cơ sở quần chúng rộng rãi, đặc biệt là trong nông dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số, thông qua các tổ chức cứu quốc phù hợp với điều kiện từng địa phương. Việc Nguyễn Ái Quốc lựa chọn Cao Bằng làm nơi trực tiếp chỉ đạo xây dựng căn cứ cách mạng và chuẩn bị cho sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là một quyết định mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Mặt trận Việt Minh đã trở thành lực lượng lãnh đạo thực tế của phong trào cách mạng cả nước, đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đi tới thắng lợi trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ðảng chỉ đạo phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân tích cực chuẩn bị mọi điều kiện để khi có thời cơ, tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền.
Chú trọng công tác xây dựng Đảng và đào tạo cán bộ, Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh: “Việc đào tạo cán bộ nay đã trở thành công tác gấp rút, không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các cấp bộ chỉ huy của Đảng phải đặc biệt chú ý công tác này. (…) làm cho cán bộ tiến cả về mặt lý thuyết lẫn thực hành công tác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 133).
Xây dựng một Đảng Mác-Lênin đủ sức lãnh đạo tổng khởi nghĩa giành chính quyền củng cố hệ thống tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt ở những nơi đô thị tập trung, đồn điền, hầm mỏ đến các hương thôn, sau nữa là các dân tộc thiểu số, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo công cuộc chuẩn bị và tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc.
Hội nghị nhận định cuộc cách mạng Đông Dương lúc này là cách mạng giải phóng dân tộc, một bước đi chiến lược trong tiến trình cách mạng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo. Vì vậy, Đảng phải được xây dựng vững mạnh, thực sự là đội tiên phong của giai cấp công nhân: phải chú trọng xây dựng lực lượng Đảng đều khắp, phải gấp rút đào tạo cán bộ, coi đó là một công tác cấp bách; phải đẩy mạnh công tác vận động quần chúng. Đảng phải tổ chức và giữ vững giao thông liên lạc, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được đồng đều và thông suốt.
4. Kết luận
Kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam đã chỉ ra rằng những phán đoán sai về thời cơ sẽ dẫn đến những cuộc khởi nghĩa non và những tổn thất to lớn. Vì vậy, HNTƯ 8 (5-1941) đã phân tích một cách khoa học và đưa ra những dự báo chính xác về thời cơ cách mạng chính là những chỉ dẫn có giá trị thực tiễn cao, đóng góp rất to lớn vào quá trình xây dựng và chuẩn bị lực lượng cho cuộc tổng khởi nghĩa đi đến thắng lợi cuối cùng, mang lại nền độc lập cho dân tộc. HNTƯ 8 (5-1941) có ý nghĩa to lớn trong tiến trình hoạch định đường lối và quá trình thực hiện cuộc vận động khởi nghĩa giành chính quyền giữa lúc phát xít Đức đang mở rộng chiến tranh ở Châu Âu, chuẩn bị tấn công Liên Xô, giữa lúc phát xít Nhật bành trướng thế lực ở Viễn Đông, tiến quân vào Đông Dương, nhân dân Đông Dương đang phải chịu hai tầng xiềng xích Pháp-Nhật thì Hội nghị đã nhìn thấy tiền đồ tươi sáng của cách mạng Việt Nam.
Hội nghị BCHTƯ (5-1941) thể hiện sự trưởng thành vượt bậc của Đảng về tư duy cách mạng, về lãnh đạo chính trị, độc lập, tự chủ trong xác định đường lối. Với quyết định thay đổi chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, với quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, đổi mới hoàn toàn phương châm vận động quần chúng và xây dựng lực lượng, với những nhận định sắc bén về thời cuộc, phán đoán tài tình về thời cơ và hình thái của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, HNTƯ 8 (5-1941) có tầm quan trọng đặc biệt, mở đường đi tới thắng lợi cuối cùng cho toàn bộ cuộc vận động cứu nước của dân tộc Việt Nam.
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 6. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 7. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đầu nguồn (Hồi ký về Bác Hồ). (1975). Nxb. Văn học, Hà Nội
Đinh Xuân Lâm (Chủ biên) Nguyễn Văn Khánh - Phạm Hồng Tung - Phạm Xanh. (2016). Lịch sử việt Nam tập III từ 1858 đến 1945. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Hà Nội
Phùng Thế Tài. (2002). Bác Hồ, Những kỷ niệm không quên, Nxb. Quân đội Nhân dân. Hà Nội.
Email: trinhhonghanh2021@gmail.com
- Tạp chí Lịch sử Đảng
- Liên kết bài viết gốc
Tin khác cùng chủ đề
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV - Bước đột phá trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng
- 14/04/2026 05:06:03
- 310 lượt xem
- 0 lượt thích
Với bản lĩnh chính trị vững vàng và xuất phát từ thực tiễn đất nước trong những năm 1976-1979, Đảng và nhân dân Việt Nam đã kiên trì tháo gỡ khó khăn, từng bước tìm tòi con đường đổi mới. Hội nghị Trung ương lần thứ 6, khóa IV (8-1979), được coi là điểm khởi đầu đổi mới tư duy kinh tế của Đảng, mở đầu quá trình tìm kiếm giải pháp đưa đất nước từng ...
Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 - ...
- 15/05/2026 08:17:02
- 73 lượt xem
- 0 lượt thích
Giai đoạn 1969 – 1975, trong bối cảnh Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” gắn với các chương trình bình định, căn cứ địa cách mạng ở Nam Bộ bị tiến công, phá hoại quyết liệt. Trước tình hình đó, phụ nữ Nam Bộ đã nổi lên là lực lượng nòng cốt trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa, thể hiện vai trò toàn diện trên ...
Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- 07/05/2026 11:31:15
- 73 lượt xem
- 0 lượt thích
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời trong bối cảnh phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức nghiêm trọng cả về đối nội và đối ngoại. Trước âm mưu tái xâm lược của thực dân Pháp và những biến động phức tạp của tình hình quốc tế, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triển khai đường lối đối ...
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời bước ngoặt quyết định trong tiến trình lịch sử của dân tộc
- 01/04/2026 07:49:36
- 381 lượt xem
- 0 lượt thích
Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với việc xác lập Cương lĩnh chính trị đầu tiên đã khẳng định dứt khoát nội dung, xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam là gắn liền độc lập dân tộc với CNXH. Đó là thành quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt ...
Nghị quyết Đại hội I của Đảng “về công tác trong các dân tộc thiểu số” - Ý nghĩa lịch sử và giá trị thực tiễn hiện ...
- 03/04/2026 08:09:25
- 242 lượt xem
- 0 lượt thích
Đại hội I (1935) của Đảng đã đề ra nhiều chủ trương, thông qua nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó có Nghị quyết “về công tác trong các dân tộc thiểu số”. Đây là một văn kiện lịch sử quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương. Nghị quyết không chỉ thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng đối với ...
Vang mãi anh hùng ca thống nhất đất nước
- 06/05/2026 03:03:53
- 68 lượt xem
- 0 lượt thích
Năm nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta long trọng kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1945 – 30/4/2026) – trang vàng chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam, một sự kiện trọng đại biến ước mơ của nhân dân ta về độc lập dân tộc, thống nhất đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc thành hiện thực.










Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5-1941) là một dấu mốc đặc biệt quan trọng trong quá trình hoàn thiện đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trên cơ sở phân tích tình hình quốc tế và trong nước, Hội nghị đã đưa ra những nhận định khoa học, nhạy bén về thời cuộc, dự báo đúng xu hướng phát triển của chiến tranh và khả năng xuất hiện thời cơ cách mạng. Dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị xác định: giải phóng dân tộc là nhiệm vụ trung tâm, cấp bách của cách mạng Việt Nam; đồng thời chủ trương tích cực chuẩn bị mọi điều kiện về chính trị, tổ chức, lực lượng vũ trang, căn cứ địa và công tác xây dựng Đảng nhằm chủ động đón thời cơ khởi nghĩa giành chính quyền. Những quyết sách chiến lược của Hội nghị không chỉ thể hiện sự phát triển vượt bậc về tư duy lãnh đạo của Đảng mà còn tạo cơ sở trực tiếp đưa tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.