Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo là nhiệm vụ có ý nghĩa quan trọng, góp phần khẳng định và làm giàu thêm hệ giá trị văn hóa Việt Nam, thúc đẩy kinh tế phát triển và khẳng định chủ quyền quốc gia trên biển. Trong thời kỳ đổi mới, công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sát thực tiễn. Trong bối cảnh tình hình Biển Đông diễn biến phức tạp, khó lường, đe dọa tới chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển của Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo cần được nghiên cứu, bổ sung, phát triển.

Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo trong thời kỳ đổi mới
Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo trong thời kỳ đổi mới
1. Đặt vấn đề
Di sản văn hóa (DSVH) biển đảo Việt Nam là toàn bộ các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kinh tế, chính trị được hình thành, lưu giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ; là bộ phận cấu thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam và nhân loại. Nhận thức tầm quan trọng của giá trị di sản văn hóa (GTDSVH) biển đảo, trong quá trình đổi mới, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương định hướng bảo tồn và phát huy các GTDSVH, đưa văn hóa ngày càng thấm sâu vào đời sống cộng đồng cư dân vùng biển đảo. Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”, việc nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo tồn các GTDSVH nói chung, DSVH biển đảo nói riêng càng trở nên cấp thiết. Bài viết tập trung làm rõ quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo tồn, phát huy các GTDSVH biển đảo và một số kết quả nổi bật trong thực hiện bảo tồn và phát huy các GTDSVH biển đảo.
Phương pháp nghiên cứu: Bài viết kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic nhằm hệ thống, khái quát các quan điểm của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nói chung, GTDSVH biển đảo nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng một số phương pháp khác như: phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phương pháp so sánh, đối chiếu nhằm làm rõ những bước phát triển trong tư duy, nhận thức của Đảng về vấn đề nghiên cứu.


Nghi lễ chính của Lễ hội Cầu ngư truyền thống quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Chủ trương của Đảng về bảo bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo
Một là, đánh giá tiềm năng, lợi thế, xác định giá trị di sản văn hóa biển đảo là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ giá trị văn hóa Việt Nam, vừa là mục tiêu, vừa là động lực xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam có vị trí địa chính trị, địa kinh tế biển đặc biệt quan trọng với ba mặt Đông, Nam và một phần Tây Nam giáp biển, bờ biển dài 3.260 km, tổng diện tích vùng biển rộng hơn 1 triệu km2, hơn 3.000 đảo lớn nhỏ (Đoàn Triệu Long, Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Nhị Hòa, 2021, tr.7), có 21/34 tỉnh thành có biển, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Biển đảo Việt Nam ẩn chứa nhiều tài nguyên vô cùng phong phú. Đây còn là “môi trường sống, là bộ phận hợp thành góp phần tạo dựng, định diện bản sắc văn hóa, tư duy của người Việt” qua nhiều thế hệ (Nguyễn Kim, 2011, tr.31).
Nhận thức vị trí, vai trò của các GTDSVH biển đảo, trong quá trình đổi mới, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương nhằm bảo tồn và phát huy các GTDSVH. Đại hội VI (1986) của Đảng đặt nền móng cho nhận thức mới về bảo tồn văn hóa, trong đó xác định rõ: “Mỗi hoạt động văn hóa, văn nghệ đều phải tính đến hiệu quả xã hội, tác động đến tư tưởng, tâm lý, tình cảm, nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ thẩm mỹ của nhân dân;… giữ gìn và tôn tạo những di tích lịch sử, văn hóa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.426-427). Từ chủ trương chung, các GTDSVH biển đảo được chú trọng nghiên cứu, bảo tồn. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 6-5-1993 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt” nhấn mạnh: “Cần tổ chức điều tra, nghiên cứu sâu và có hệ thống về tài nguyên, môi trường biển… Tiếp tục hoàn thiện chiến lược về biển của cả nước (tới sau năm 2000) và hướng dẫn các ngành, các địa phương lập quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển, giữ gìn môi trường, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.582). Đại hội VIII (1996) tiếp tục định hướng: “Tăng cường các hoạt động điều tra cơ bản, khoa học và công nghệ về biển. Đặc biệt quan tâm bảo vệ tài nguyên và môi trường ven biển và biển... Bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quản lý, khai thác biển, ven biển và các hải đảo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.476).
Đại hội IX (2001) của Đảng chủ trương: “Xây dựng chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa. Tăng cường điều tra cơ bản làm cơ sở cho các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế biển… ; tiến mạnh ra biển và làm chủ vùng biển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016a, tr.255). Đặc biệt, trước tác động của bối cảnh mới đặt ra yêu cầu cần có chiến lược về biển mang tính dài hạn, ngày 9-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” nhấn mạnh: “Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018b, tr.46); “Đẩy mạnh công tác điều tra về tài nguyên, môi trường biển để xác lập căn cứ khoa học cho việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, chính sách quản lý tài nguyên, môi trường biển theo hướng phát triển bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018b, tr.50). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước” xác định: “Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.54).
Đại hội XII (2016) của Đảng tiếp tục chỉ rõ: “Đẩy nhanh điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường biển, đảo… Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư lâu dài trên các đảo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.289). Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Nghị quyết chỉ rõ: “Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn;… Giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa biển đi đôi với xây dựng xã hội gắn kết, thân thiện với biển… Tăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018c, tr.81-83). “Chú trọng phát triển các thiết chế văn hóa cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hóa dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hóa biển. Bảo tồn không gian văn hóa, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hóa gắn bó, thân thiện với biển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018c, tr.96).
Trong Nghị quyết Đại hội XIII (2021), nhận thức của Đảng về văn hóa phát triển thêm một bước khi nhấn mạnh văn hóa là “tài nguyên”, “sức mạnh mềm” của quốc gia. Do đó, đối với các DSVH biển đảo, cần: “Tổ chức tốt việc xây dựng và quản lý thống nhất quy hoạch không gian biển quốc gia, hoàn thiện cơ chế quản lý tổng hợp và chuyên ngành về biển, đảo… điều tra tài nguyên, môi trường biển; xây dựng cơ sở dữ liệu số về biển, đảo…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.125-126). Đến năm 2026, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Bảo tồn và phát huy hiệu quả các giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển kinh tế di sản… Chủ động, tích cực hợp tác, quảng bá hình ảnh đất nước, giá trị văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.97-98). Đối với các DSVH biển đảo cần “Bảo vệ, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là … hệ sinh thái biển, các khu bảo tồn thiên nhiên… Thực hiện tốt quy hoạch không gian biển quốc gia, hoàn thiện và xây dựng cơ sở dữ liệu, cơ chế quản lý tổng hợp về biển, đảo. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, điều tra tài nguyên, môi trường biển; nâng cao năng lực dự báo và giám sát môi trường biển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.112-113).Đặc biệt, Bộ Chính trị ban ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”, nhấn mạnh: đến năm 2030 “Cơ bản hoàn thành việc tu bổ, tôn tạo các di tích quốc gia đặc biệt; phục hồi, bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một, cần bảo vệ khẩn cấp” (Bộ Chính trị, ngày 7-1-2026, tr.3).
Hai là, bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo tạo nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển toàn diện và bền vững đất nước
Với quan điểm xuyên suốt, bảo tồn các GTDSVH biển đảo có ý nghĩa quan trọng, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đã tạo hành lang gắn kết bảo tồn, phát huy GTDSVH biển đảo với các lĩnh vực: kinh tế biển, du lịch biển đảo, quốc phòng, an ninh trên biển.
Đại hội VIII của Đảng nhấn mạnh: “Vùng biển và ven biển là địa bàn chiến lược về kinh tế và an ninh quốc phòng, có nhiều lợi thế phát triển và là cửa mở lớn của cả nước để đẩy mạnh giao lưu quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài… Coi trọng việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và văn hóa, giữ gìn bản sắc và truyền thống dân tộc với tiến lên hiện đại trong phát triển đô thị (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.475-476). Đại hội X (2006), Đảng nhìn nhận vai trò bảo tồn, phát huy các GTDSVH biển đảo trong tổng thể phát triển: “Phát triển mạnh kinh tế biển vừa toàn diện, vừa có trọng tâm, trọng điểm với những ngành có lợi thế so sánh để đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về kinh tế biển gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018a, tr.293-294). Đặc biệt, Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, quan điểm phát triển chặt chẽ, hài hòa, bền vững được nâng tầm: “Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thu hút mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018b, tr.47); mục tiêu “Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển… góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018b, tr.47). Đại hội XI (2011), nhấn mạnh: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta,… tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.121) cần: “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2014, tr.54). Đến Đại hội XII (2016), văn hóa được nâng lên một vị thế mới: “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.126); cần “Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016b, tr.129). Đối với các DSVH biển đảo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” nêu rõ: “Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hòa giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển... Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển… phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018c, tr.82,84).
Tại Đại hội XIII, Đảng chỉ đạo: “…xác định và phát huy sức mạnh mềm của văn hóa Việt Nam… Gắn phát triển văn hóa với phát triển du lịch, đưa du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, đồng thời bảo vệ, gìn giữ tài nguyên văn hóa cho các thế hệ mai sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.145-146). Một trong những định hướng lớn: “Hình thành và phát triển các trung tâm du lịch biển, nghỉ dưỡng, lịch sử, tâm linh, di sản, sinh thái…mang tầm khu vực và quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021b, tr.117). Đến Đại hội XIV, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và cách thức phát huy các GTVH toàn diện và bao trùm hơn: phát triển văn hóa gắn với phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa phải được thấm sâu vào mọi phương diện của đời sống xã hội; “phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực to lớn cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.145).
Với quan điểm chỉ đạo xuyên suốt, các DSVH biển đảo không chỉ là giá trị tinh thần, mà trở thành động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Các quyết sách được đề ra qua từng nghị quyết, chiến lược đều cho thấy những quan điểm định hướng rất rõ ràng, cụ thể của Đảng.
Ba là, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo tạo sức mạnh nội sinh quan trọng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển
Đại hội VIII nhấn mạnh: “Khai thác tối đa tiềm năng và các lợi thế của vùng biển, ven biển, kết hợp với an ninh, quốc phòng, tạo thế và lực để phát triển mạnh kinh tế - xã hội, bảo vệ và làm chủ vùng biển của Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.475). Đại hội X nhấn mạnh: “Nhanh chóng phát triển kinh tế - xã hội ở các hải đảo gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018a, tr.294). Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” khẳng định: “Nhiệm vụ cơ bản, lâu dài và xuyên suốt là xác lập chủ quyền đầy đủ, quản lý bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán vùng biển, thềm lục địa, hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và các quần đảo, đảo khác thuộc chủ quyền của nước ta… Xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý và lịch sử để đấu tranh bảo vệ chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018b, tr.49,54). Đại hội XI chủ trương: “Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội trên từng địa bàn lãnh thổ, trong công tác quy hoạch, kế hoạch và các chương trình, đề án” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.138). Đến Đại hội XIII, quan điểm này được mở rộng hơn về nội hàm khi bổ sung thêm vấn đề bảo vệ tài nguyên, môi trường biển: “… kết hợp chặt chẽ với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, tài nguyên, môi trường biển…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021a, tr.125). Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIV, trên cơ sở dự báo tình hình: “Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển, đảo, trong đó có Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nguy cơ xảy ra xung đột” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.78), Đảng nhấn mạnh “… kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.114), cần “Xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển kinh tế kết hợp với bảo đảm quốc phòng, an ninh trên biển cho các đặc khu, đảo…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.157). Với quan điểm này, các GTDSVH biển đảo đã trở thành một trong những thành tố quan trọng khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển, nhất là với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa.

 

Rước kiệu nghinh thần tại lễ hội đình Trà Cổ
 
2.2. Một số kết quả đạt được
Về nhận thức:
Thứ nhất, trải qua 9 kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội XIV), tư duy, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của GTDSVH biển đảo ngày càng có bước phát triển quan trọng. Điều này thể hiện ở việc nhận diện rõ GTDSVH biển đảo là bộ phận cấu thành quan trọng của hệ giá trị văn hóa Việt Nam; vừa là mục tiêu, vừa là động lực, nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển toàn diện và bền vững đất nước; đồng thời, tạo sức mạnh mềm trong khẳng định và bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Từ nhận thức đó, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các GTDSVH biển đảo ngày càng được xác định rõ từ việc tăng cường công tác điều tra, nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về tài nguyên, môi trường biển đảo đến việc quy hoạch phát triển không gian vùng, không gian kinh tế, không gian văn hóa biển đảo.
Thứ hai, từ phát triển nhận thức của Đảng, đã góp phần hình thành Chiến lược biển Việt Nam, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nếu như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9-2-2007 “về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020” tập trung chủ yếu vào khai thác tiềm năng từ biển đảo để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế; chú trọng phát triển các ngành kinh tế biển, du lịch biển đảo, phấn đấu xây dựng nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển… thì đến Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22-10-2018 “về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”, tư duy, nhận thức của Đảng chuyển trọng tâm từ khai thác biển sang quản trị toàn diện và có hiệu quả biển đảo; phát triển bền vững kinh tế biển; đặt con người và hệ sinh thái biển đảo ở vị trí trung tâm; gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo tồn tài nguyên biển đảo và đa dạng sinh học… Điều này cho thấy Đảng đã nhận thức đúng bản chất của công tác bảo tồn các GTDSVH biển đảo: bảo tồn không chỉ để gìn giữ, mà còn phải phát huy, nâng tầm giá trị di sản và khẳng định bản sắc văn hóa biển đảo Việt Nam. Đây có thể coi là bước phát triển vượt bậc trong tư duy, nhận thức của Đảng về bảo tồn và phát huy các GTDSVH biển đảo qua 40 năm đổi mới.
Thứ ba, nhận thức của Đảng về bảo tồn và phát huy các GTDSVH biển đảo ngày càng đầy đủ, toàn diện và bao trùm hơn. Bảo tồn, phát huy các GTDSVH biển đảo không chỉ đơn thuần là làm cho cái hay, cái đẹp được nảy nở và phát triển thêm, mà phải đặt nhiệm vụ đó trong tổng hòa những mối quan hệ biện chứng: giữa bảo tồn và phát triển; giữa lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài; giữa bảo tồn GTDSVH biển đảo gắn với bảo đảm an ninh quốc gia trên biển… Điều này có nghĩa văn hóa biển đảo đã được nhìn nhận không chỉ là động lực, mà còn là hệ điều tiết nhằm bảo đảm cho sự phát triển nhanh, ổn định và bền vững đất nước.
Về thực tiễn:
Một là, hệ thống chính sách về bảo tồn và phát huy các GTDSVH biển đảo được bổ sung hoàn thiện và đồng bộ. Trên cơ sở quan điểm, chủ trương chỉ đạo xuyên suốt, hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước về DSVH nói chung, bảo tồn các GTDSVH biển đảo nói riêng ngày càng hoàn thiện hơn. Sự ra đời của Luật Di sản văn hóa (năm 2001; sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2009) cùng nhiều nghị định hướng dẫn cụ thể khác đã tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn, phát huy các GTDSVH biển đảo. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo như: Nghị định số 86/2005/NĐ-CP ngày 8-7-2005 của Chính phủ “về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước”, xác định rõ hoạt động quản lý và bảo vệ các DSVH dưới vùng nước nội địa, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam; Quyết định số 742/QĐ-TTg ngày 26-5-2010 của Thủ tướng Chính phủ “về việc phê duyệt quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020”; Quyết định số 373/2010/QĐ-TTg ngày 23-3-2010 của Thủ tướng Chính phủ “phê duyệt Đề án đẩy mạnh công tác tuyên truyền về quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững biển và hải đảo Việt Nam”; Chỉ thị số 31/CT-TTg ngày 24-11-2021 của Thủ tướng Chính phủ “về đổi mới và tăng cường tổ chức thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”… Đặc biệt, Nghị quyết số 48/NQ-CP ngày 3-4-2023 của Chính phủ “phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050”, trong đó khẳng định: “Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo là nền tảng và nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước, phải được khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học…” (Chính phủ, 3-4-2023, tr.1). Phấn đấu đến năm 2030 “tài nguyên biển và hải đảo được điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học biển và hải đảo cơ bản đáp ứng yêu cầu khai thác hợp lý, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên biển, bảo tồn đa dạng sinh học biển và hải đảo, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển, hướng tới mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển” (Chính phủ, 3-4-2023, tr.3).
Hai là, từ nhận thức và chỉ đạo đúng hướng, công tác bảo tồn các GTDSVH biển đảo đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều GTDSVH biển đảo được gìn giữ. Theo thống kê, hiện cả nước có khoảng 40.000 di tích trong danh mục kiểm kê, trong đó có 37 di sản thế giới, 147 di tích quốc gia đặc biệt, 3.677 di tích cấp quốc gia và khoảng 11.000 di tích cấp tỉnh, 11 di sản tư liệu được UNESCO công nhận là di sản ký ức, trong đó vùng biển đảo Việt Nam hiện có hơn 1.000 DSVH, 7/13 DSVH thế giới, 6/8 khu sinh quyển (Ngọc Hải,19-9-2025). Cùng với đó, nhiều DSVH phi vật thể được duy trì; hiện cả nước có khoảng 8.902 lễ hội (Ban Tuyên giáo Trung ương, 2013, tr.61), trong đó nhiều lễ hội mang đậm dấu ấn vùng biển đảo như: Lễ hội Cầu Ngư, lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, lễ hội Nghinh Ông/cá Ông, lễ Rước Sắc, lễ hội Tháp Bà Pônagar, lễ hội yến sào, lễ hội đua thuyền truyền thống… Nhiều phong tục, tín ngưỡng, tri thức dân gian về đánh bắt hải sản, nghề truyền thống, nghệ thuật diễn xướng được gìn giữ. Tất cả tạo nên hệ GTDSVH biển đảo vô cùng đặc sắc, độc đáo.
Bên cạnh đó, việc phát huy các GTDSVH biển đảo gắn với kinh tế biển, du lịch biển đảo, quốc phòng, an ninh trên biển đã mang lại hiệu quả tích cực. Kinh tế biển phát triển theo hướng bền vững, đóng góp ngày càng lớn vào GDP cả nước (năm 2015: 3.696.826 tỷ đồng; năm 2020 tăng 5.005.756 tỷ đồng, dự kiến năm 2030: 6.707.749 tỷ đồng) (Muthukumara S. Mani, Nguyễn Thị Lệ Thu, 2025, tr.19). Du lịch biển đảo có bước phát triển bứt phá, hàng năm thu hút bình quân 70% lượng khách du lịch trong và ngoài nước, đóng góp quan trọng vào GDP của cả nước (Nguyễn Chu Hồi, 2020, tr.110). Quốc phòng, an ninh trên biển đảo được giữ vững. Các GTDSVH biển đảo ngày càng đóng vai trò quan trọng, tạo cơ sở lịch sử, pháp lý nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên biển, nhất là với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Kết luận:
Nhìn lại quá trình 40 năm (1986-2026) đổi mới, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo không ngừng được bổ sung, phát triển. Nhờ đó, các GTDSVH biển đảo Việt Nam ngày càng được định hình rõ nét: là một thành tố quan trọng cấu thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam; là nguồn lực nội sinh quan trọng để phát triển bền vững đất nước, là “sức mạnh mềm” trong sách lược đối ngoại và là cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên biển. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới với nhiều thuận lợi, khó khăn thách thức đặt ra, để phát triển hệ giá trị văn hóa Việt Nam, cần tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nhất là các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa nói chung, các GTDSVH biển đảo nói riêng, qua đó góp phần đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước về văn hóa.

Tài liệu tham khảo

Ban Tuyên giáo Trung ương. (2013). 100 câu hỏi đáp về biển, đảo giành cho tuổi trẻ Việt Nam, Nxb Thông tin và Truyền thông
Bộ Chính trị. (ngày 7-1-2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW “về phát triển văn hóa Việt Nam”, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/nghi-quyet-so-80-nq-tw-ve-phat-trien-van-hoa-viet-nam-119260113133313565.htm
Chính phủ. (ngày 3-4-2023). Nghị quyết số 48/NQ-CP “phê duyệt Chiến lược khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050”, https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=207686
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2006). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 47. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2007). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 52. Nxb Chính trị quốc gia
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2014). Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng
 Đảng Cộng sản Việt Nam. (2015). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 55. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
 Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016a). Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 60. Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
 Đảng Cộng sản Việt Nam. (2016b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2018a) Văn kiện Đảng Toàn tập: Tập 65. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2018b). Văn kiện Đảng, Toàn tập: Tập 66. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2018c). Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XII. Văn phòng Trung ương Đảng
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2021b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII: Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV: Tập I. Nxb Chính trị quốc gia
Đoàn Triệu Long, Nguyễn Ngọc Hòa, Lê Nhị Hòa. (đồng Chủ biên). (2021). Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa từ góc nhìn lịch sử và pháp lý. Nxb Lý luận Chính trị
Muthukumara S. Mani và Nguyễn Thị Lệ Thu. (2025). Báo cáo “Thúc đẩy kinh tế biển Việt Nam bền vững - Nghiên cứu rà soát đầu tư và chi tiêu công”. https://documents1.worldbank.org/curated/en/099062725005065009/pdf/P176996-bf56e193-83c5-40fd-bb50-0b48150bf47e.pdf
Ngọc Hải. (19-9-2025).  “Phát huy giá trị di sản văn hóa vùng  biển đảo nước ta hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, https://www.tapchicongsan.org.vn/vi_VN/web/guest/van_hoa_xa_hoi/-/2018/1134502/view_content
Nguyễn Chu Hồi. (2020). Biển, đảo Việt Nam những thông tin cơ bản: Tập 2, Tài nguyên biển, đảo Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Nguyễn Kim. (2011). “Từ huyền thoại về biển đến cơ tầng văn hóa biển nhận thức về biển, đảo trong nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân tộc”, in trong cuốn Người Việt với biển, Nxb Thế giới
Quốc hội. (2001). Luật số 28/2001/QH10, Luật Di sản văn hóa, https://vanban.chinhphu.vn/default.aspx?pageid=27160&docid=80239.
ThS CAO THỊ HIỆU
Học viện Chính trị khu vực III
1. Đặt vấn đềDi sản văn hóa (DSVH) biển đảo Việt Nam là toàn bộ các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kinh tế, chính trị được hình thành, lưu giữ và truyền lại qua nhiều thế hệ; là bộ phận cấu thành hệ giá trị văn hóa Việt Nam và nhân loại. Nhận thức tầm quan trọng của giá trị di sản văn hóa (GTDSVH) biển đảo, trong quá trình đổi mới, Đảng đã đề ra nhiều chủ trương định hướng bảo tồn và phát huy các GTDSVH, đưa văn hóa ngày càng thấm sâu vào đời sống cộng đồng cư dân vùng biển đảo. Đặc biệt, sau khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 7-1-2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”, việc nghiên cứu các quan điểm, chủ trương của Đảng về b

Tin khác cùng chủ đề

Xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam - Lịch sử và hiện tại
Phát huy vai trò nêu gương của cá nhân điển hình tiên tiến trong giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên hiện nay
Chỉnh huấn chính trị trong quân đội những năm 1952 - 1953: giá trị vận dụng trong công tác chính trị tư tưởng hiện nay
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước qua 40 năm đổi mới
Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển và quản lý đảng viên ở nước ngoài
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính quyền cấp xã và sự vận dụng của Đảng trong xây dựng chính quyền cấp cơ sở hiện nay

Gửi bình luận của bạn