Dân chủ là một giá trị phổ biến của nhân loại, là thước đo sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Ở Việt Nam, gắn với chiều dài lịch sử phát triển của dân tộc đã sớm hình thành ý thức dân chủ và chú trọng xây dựng hệ giá trị dân chủ. Bài viết tập trung phân tích bản chất của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, quá trình hình thành, xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam qua các thời kỳ. Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới đất nước, hệ giá trị dân chủ dựa trên nền tảng giá trị dân chủ xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với yêu cầu thực tiễn của đất nước, được thể hiện trong quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và đời sống hiện thực xã hội.

Xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam - Lịch sử và hiện tại
Xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam - Lịch sử và hiện tại

1. Sự hình thành hệ giá trị dân chủ Việt Nam trong lịch sử
Dân chủ - một giá trị phổ biến của nhân loại
Thuật ngữ “dân chủ” xuất hiện từ thời cổ đại, vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Demos là nhân dân và Kratos là cai trị. Theo cách diễn đạt này, dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị, sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ” - thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nhà nước phải thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công dân. Chính xác thì các quyền tự do, bình đẳng là biểu hiện của mỗi nền dân chủ, cùng với những quyền đó còn có các nghĩa vụ, trách nhiệm công dân.
Chế độ dân chủ chủ nô gắn với nhà nước dân chủ Athens là chế độ dân chủ đầu tiên của nhân loại. Tuy nhiên, chỉ mới tồn tại dưới hình thức sơ khai, dân chủ chỉ trở thành “đúng nghĩa” khi giai cấp tư sản đấu tranh lật đổ chế độ phong kiến thiết lập chế độ dân chủ tư sản. Trong chế độ dân chủ tư sản mới thực hiện các quyền lực của nhân dân thông qua hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp. Trong “Tuyên ngôn độc lập” của Mỹ và “Tuyên ngôn dân quyền và nhân quyền” của Pháp đã khẳng định nội dung của chế độ dân chủ, thể hiện bước phát triển to lớn của nhân loại. Đúng như C. Mác nói: “So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại”. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản đã đàn áp các cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, mặc đù hiện nay giai cấp tư sản có sự điều chỉnh để tồn tại, nhưng cũng vẫn “bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi”1. Còn trong chế độ dân chủ XHCN mà V.I.Lênin dự báo “dân chủ gấp triệu lần dân chủ tư sản”2, là sự chắt lọc giá trị đó từ nền dân chủ tư sản, phát triển trên cơ sở của nền kinh tế, chính trị - xã hội mới.
Bản chất của nền dân chủ XHCN là toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, luôn hướng con người vươn đến tự do, bình đẳng và sáng tạo. Trong quá trình xây dựng CNXH, dân chủ trở thành giá trị phổ biến, thẩm thấu vào trong các mối quan hệ xã hội, trong các lĩnh vực của đời sống xã hội để ngày càng tạo ra điều kiện, năng lực và sức sáng tạo của con người, để “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”3. Các quyền của con người được đảm bảo và thực hiện thông Nhà nước pháp quyền XHCN.
Như vậy, gắn với sự phát triển của nhân loại, dù trong chế độ xã hội nào, xét về mặt bản chất thì dân chủ luôn là một một giá trị nhân văn tiến bộ của thời đại, đề cao các quyền tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do sáng tạo, mọi công dân đều bình đẳng và được tôn trọng. Người dân vừa là chủ thể vừa là khách thể của sự sáng tạo và hưởng thụ các giá trị của nhân loại. Dân chủ ngày càng trở thành tiêu chí, thước đo của sự tiến bộ xã hội, trình độ văn minh của loài người, như Hội đồng Liên hợp quốc nhận định: dân chủ là giá trị cốt lõi của Liên hợp quốc.
Hệ giá trị dân chủ Việt Nam trong lịch sử
Bên cạnh sự giao thoa với bên ngoài, trong đó có kế thừa giá trị dân chủ phương Tây, giá trị dân chủ Việt Nam là sự kết tinh của truyền thống dân tộc, được bồi đắp, tích lũy trong suốt chiều dài phát triển của dân tộc. Cho dù hiện nay rất khó tìm ra những tư liệu để minh chứng, nhưng qua tư tưởng, phong tục, tập quán lối sống... của người Việt cho thấy “bức tranh” chân thực về dân chủ trong truyền thống dân tộc và “không thể phủ nhận được sự tồn tại một số tư tưởng và hình thức dân chủ nào đó trong đời sống xã hội và trong truyền thốngViệt Nam”4.
Trong chế độ phong kiến Việt Nam với những ảnh hưởng của các tư tưởng chính trị của Nho, Phật, Lão cũng đã hình thành nên những tư tưởng dân chủ tiến bộ. Nho giáo với tư tưởng đại đồng, tôn trọng quyền lực, trọng người tài...; Phật giáo với lòng khoan dung, từ bi, hỷ xả; Lão giáo với tư tưởng vô vi. Những yếu tố này thấm sâu vào trong tư tưởng, tâm lý, lối sống, tình cảm của người Việt, góp phần hình thành, bồi đắp nên giá trị dân chủ Việt Nam. Đặc biệt, dưới tác động của tư tưởng bình đẳng, công bằng của Nho giáo đã hình thành nên hệ thống pháp luật khẳng định tầm quan trọng của việc xây dựng xã hội hài hòa và tránh xung đột.
Về cơ bản các triều đại phong kiến Việt Nam đều đánh giá cao vai trò của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước, đã sớm hình thành nên tư tưởng trọng dân, thực hiện các hình thức dân chủ đối với nhân dân. Trong triều đại nhà Lý đề cao tính dân chủ, công bằng trong việc thi cử, chọn người tài, người tài được tuyển chọn vào hệ thống công quyền mở rộng tất cả mọi tầng lớp nhân dân. Đặc biệt, triều Lý đã xây dựng một tháp chuông ở kinh thành Thăng Long, để khi gặp bất bình người dân đến rung chuông đòi công lý. Điều này thể hiện triều Lý đã dùng dân chủ như một phương thức trong việc điều hành công việc nhà nước. Triều đại nhà Trần, Trần Quốc Tuấn coi ý chí của dân chúng là bức thành giữ nước, ông chủ trương “khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc”. Tính dân chủ thể hiện đậm nét trong việc mở Hội nghị Diên Hồng để lấy ý kiến của các bô lão về việc đánh giặc. Bộ luật Hồng Đức của triều Lê đề cao sự bình đẳng, công lý, được sử dụng điều hành xã hội phát triển hài hòa. Vai trò của nhân dân được đề cao, Nguyễn Trãi ví dân như nước, “Thuyền bị lật mới tin rằng dân như nước”5, “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”6. Đến các triều nhà Mạc, nhà Nguyễn, tinh thần, tư tưởng dân chủ đó ít nhiều được tiếp nối.
Trong thời kỳ Pháp thuộc, nhân dân Việt Nam bị đè nén, áp bức bởi thực dân phong kiến, quyền dân chủ bị hạn hẹp. Các phong trào yêu nước diễn ra với những cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ cho nhân dân liên tục nổ ra. Thông qua các nhà yêu nước, trí thức tiến bộ Việt Nam mà tư tưởng dân chủ tư sản phần nào du nhập vào trong nước, nhưng chưa có điều kiện để phát triển mạnh mẽ.
Có thể nói, giá trị dân chủ Việt Nam có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử và văn hóa dân tộc. Các giá trị truyền thống của Việt Nam bắt nguồn từ các nguyên tắc trọng dụng nhân tài, coi trọng vai trò của nhân dân, công bằng và hài hòa xã hội, tất cả đều góp phần hình thành hệ giá trị dân chủ Việt Nam.
Tiếp nối truyền thống của dân tộc, giá trị dân chủ được Hồ Chí Minh nâng tầm dựa trên nền tảng hệ giá trị mới - chủ nghĩa Mác - Lênin, dân chủ gắn liền với bản chất của CNXH. Kế thừa quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao vị trí, vai trò của dân chủ, Người cho rằng: dân chủ có vai trò hết sức to lớn, “là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”7. Theo Người, đối với nhân dân, thì dân chủ là cái quý nhất. Trong  bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chú trọng xây dựng một nhà nước dân chủ. Trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, cũng nhấn mạnh  dân chủ và thực hành dân chủ. Trong việc xây dựng và củng cố chính quyền nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”8.
Để thực hiện dân chủ XHCN, theo Hồ Chí Minh, dân chủ phải gắn với pháp luật, kỷ cương, kỷ luật. Điều này được Đảng và Nhà nước luôn chú trọng xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thông qua thực thi pháp luật bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân.
 
2. Xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
Đại hội VI (1986) của Đảng đã nhấn mạnh chủ trương phát huy dân chủ để tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước: “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”9. Đại hội VII (1991) của Đảng thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xác định 6 đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân xây dựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ. Cương lĩnh khẳng định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hóa bằng pháp luật và pháp luật bảo đảm”10. Đại hội IX (2001) của Đảng tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra 4 bài học chủ yếu, trong đó có bài học: “đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”11. Đặc biệt, Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam: “Lợi ích giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”12. Đây là một bước tiến về nhận thức hệ giá trị dân chủ. Đại hội X (2006) của Đảng đã bổ sung đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; đã phát triển đặc trưng thứ hai là do nhân dân làm chủ trong mô hình xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng.
Đại hội XI (2011) của Đảng thông qua Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), xác định “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ;...”13. Trong đó, cụm từ “dân chủ” được đưa lên trước cụm từ “công bằng, văn minh”. Điều này cho thấy, Đảng đã xác định rõ vị trí của dân chủ và thực hành dân chủ trong quá trình phát triển xã hội. Đây là điều kiện tiên quyết, là cơ sở thiết yếu để xây dựng một xã hội công bằng, văn minh. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực... Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”14. Đến Đại hội XII (2016) của Đảng, dân chủ trở thành một thành tố trong chủ đề của Đại hội, đó là: Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ XHCN; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Đại hội nhấn mạnh: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến”15. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, đầy đủ của Đảng không chỉ về bản chất của nền dân chủ XHCN, mà còn về vai trò to lớn của dân chủ, vì không phát huy dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân thì sự nghiệp xây dựng CNXH khó trở thành hiện thực.
Đại hội XIII (2021) của Đảng tiếp tục có nhận thức mới về dân chủ XHCN và khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân; tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”16. Đặc biệt, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung thêm hai thành tố “dân giám sát, dân thụ hưởng” vào phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát và dân thụ hưởng”, điều này làm sâu sắc hơn quan điểm “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”. “Dân thụ hưởng” là khâu cuối trong thực hiện dân chủ ở cơ sở, nhưng cũng là mục tiêu cao nhất, thể hiện bản chất của nền dân chủ XHCN ở Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đưa ra thuật ngữ - chỉ số “hạnh phúc”: “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân;... lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”17. Chỉ số hạnh phúc hàm chứa cả giá trị vật chất và tinh thần - nhân dân phải đạt được cả hai yêu cầu này mới thực sự có hạnh phúc bền vững, mới đúng nghĩa là “Dân thụ hưởng”.
Như vậy, hệ giá trị dân chủ được Đảng xác lập trong xuyên suốt các kỳ đại hội đã không ngừng được hiện thực hóa trong thực tế với những kết quả nổi bật gắn với quá trình đổi mới toàn diện đất nước:
Một là, dân chủ trong hệ thống chính trị và toàn xã hội ngày càng được mở rộng; quyền làm chủ của nhân dân ngày càng được đảm bảo và phát huy trong đời sống thực tế. Dân chủ trong Đảng đi vào chiều sâu, thực chất. Sự tham gia của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên vào việc hoạch định, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng rộng rãi và có hiệu quả. Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân từng bước hoàn thiện đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, công khai; hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp của Quốc hội, lấy phiếu tín nhiệm các chức danh được chú trọng. Hệ thống pháp luật được hoàn thiện nhằm bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Nền hành chính quốc gia không ngừng được cải cách. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội từng bước được đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, phát huy vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân...
Hai là, thực hiện “Quy chế dân chủ ở cơ sở”; “Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn”; Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở được triển khai thực hiện rộng rãi, qua đó giúp nhân dân phát huy quyền làm chủ của mình ngày càng cao, nhân dân tham gia ngày càng nhiều vào công việc quản lý của Nhà nước, tham gia bàn bạc, trao đổi, đóng góp ý kiến vào chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước... Quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân được đảm bảo. Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân kịp thời và hiệu quả... Trong hoạt động lý luận khoa học, môi trường dân chủ có bước tiến, tạo điều kiện cho các nhà khoa học tự do tư tưởng, tranh luận, thảo luận, phát huy tính sáng tạo của mình, phản biện, đóng góp vào các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước... Đặc biệt, hiện nay, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, xử lý nghiêm minh các cá nhân tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, người nào vi phạm đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật, không loại trừ bất kỳ ai.
Ba là, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Chính vì vậy, chất lượng cuộc sống của nhân dân không ngừng được nâng cao, an sinh xã hội luôn được bảo đảm, đời sống không ngừng phát triển, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, người dân vùng sâu, vùng xa. Nếu như ở thời điểm năm 1988, GDP bình quân đầu người của Việt Nam chỉ có 88 USD, thì đến năm 2020, con số này đạt 2.779 USD18 và năm 2023 đạt 4.284,5 USD (tương đương 101,9 triệu đồng/người)19, tăng gần 49 lần trong vòng hơn ba thập niên. Nổi bật là với kết quả đạt được trong xóa đói, giảm nghèo đã đưa Việt Nam là một trong những quốc gia thực hiện thành công, sớm hơn dự định nhiều mục tiêu thiên niên kỷ do Liên Hợp quốc phát động. Tính đến năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%20. Đây là kết quả rõ rệt đạt được từ thực hiện hiệu quả đường lối của Đảng về xây dựng nền dân chủ XHCN ở Việt Nam.
Bên cạnh kết quả đạt được, “nhận thức về dân chủ trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Tình trạng tách rời, thậm chí đối lập giữa dân chủ và kỷ cương, pháp luật còn tồn tại ở nhiều nơi. Quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực còn bị vi phạm. Có lúc, có nơi, việc thực hiện dân chủ còn hạn chế hoặc mang tính hình thức; có tình trạng lợi dụng dân chủ gây chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ, gây rối, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”21
Mặc dù còn những hạn chế nhất định trong thực hiện dân chủ, song có thể thấy rằng gắn với quá trình đổi mới toàn diện đất nước, Đảng, Nhà nước đã không ngừng xây dựng, thực hiện hệ giá trị dân chủ. Với mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, dân chủ được xem như một yếu tố tất yếu, là một trong những mục tiêu và động lực cho công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.
Gắn với lịch sử phát triển của dân tộc, ở Việt Nam đã sớm hình thành ý thức dân chủ và xây dựng hệ giá trị dân chủ. Qua mỗi thời kỳ khác nhau, gắn liền với những chế độ khác nhau, nội dung hệ giá trị dân chủ khác nhau, nhưng điểm chung lớn nhất đó là dựa trên giá trị dân chủ của nhân loại để tạo lập “mẫu số chung” trong xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam. Trong tiến trình xây dựng hệ giá trị dân chủ, thời kỳ sau đã kế thừa, bổ sung và phát triển các giá trị được tạo lập từ thời kỳ trước. Đặc biệt, hệ giá trị dân chủ thời kỳ đổi mới đã dựa trên nền tảng giá trị dân chủ XHCN của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với yêu cầu thực tiễn của đất nước để xây dựng hệ giá trị dân chủ Việt Nam với những giá trị ưu việt - tất cả đều vì lợi ích của nhân dân, hướng đến quyền lực thuộc về nhân dân, hướng đến sự thụ hưởng, hạnh phúc của nhân dân.



 
* Phó Giám đốc Học viện Chính trị khu vực III
** Học viện Chính trị khu vực III
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 8/2024
1. V.I.Lênin Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2005, T. 33, tr. 106-107
2 . Sđd, T. 37, tr. 312
3. C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1995, T. 4, tr. 628
4. Phan Huy Lê: “Vấn đề dân chủ trong truyền thống Việt Nam”, Tạp chí Thông tin Lý luận, số 9-1992
5, 6. Nguyễn Tài Thư: Lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb KHXH, H, 1993, tr. 287, 268
7. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 15, tr. 325 
8. Sđd, T. 6, tr. 232 
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2006, T. 47, tr. 710
10. Sđd, 2005, T. 51, tr. 149
11, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H, 2001, tr. 19, 85-86
13, 14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 70, 84-85
15, 21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H, 2016, tr. 169, 168
16, 17, 20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I, tr. 118, 96-97, 65
18. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. II, tr. 9
19. Xem: Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2023, ngày đăng 29-12-2023.

PGS, TS PHẠM ĐỨC KIÊN*, TS LÊ VĂN PHỤC**

1. Sự hình thành hệ giá trị dân chủ Việt Nam trong lịch sửDân chủ - một giá trị phổ biến của nhân loạiThuật ngữ “dân chủ” xuất hiện từ thời cổ đại, vào khoảng thế kỷ thứ VI TCN tại Hy Lạp. Theo tiếng Hy Lạp cổ, dân chủ được viết là Demoskratos, trong đó Demos là nhân dân và Kratos là cai trị. Theo cách diễn đạt này, dân chủ được hiểu là nhân dân cai trị, sau này được các nhà chính trị dịch giản lược là quyền lực nhân dân hay quyền lực thuộc về nhân dân. Đến thế kỷ XVIII, người Anh đã dựa vào ngôn ngữ Hy Lạp cổ để đưa ra thuật ngữ “democracy”, có nghĩa là “chính thể dân chủ” - thể chế dân chủ, một trong những hình thức chính quyền với đặc trưng là: chính quyền nh&ag

Tin khác cùng chủ đề

Chủ trương của Đảng về bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa biển đảo trong thời kỳ đổi mới
Phát huy vai trò nêu gương của cá nhân điển hình tiên tiến trong giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ đảng viên hiện nay
Chỉnh huấn chính trị trong quân đội những năm 1952 - 1953: giá trị vận dụng trong công tác chính trị tư tưởng hiện nay
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước qua 40 năm đổi mới
Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển và quản lý đảng viên ở nước ngoài
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính quyền cấp xã và sự vận dụng của Đảng trong xây dựng chính quyền cấp cơ sở hiện nay

Gửi bình luận của bạn