Trải qua 40 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước không ngừng được bổ sung, điều chỉnh, phát triển phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Bài viết làm rõ quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước từ Đại hội VI đến Đại hội XIV, từ đó khẳng định đường lối kinh tế đúng đắn của Đảng và những định hướng đối với kinh tế nhà nước trong thời kỳ phát triển mới của đất nước.

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước qua 40 năm đổi mới
Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước qua 40 năm đổi mới
1. Đặt vấn đề
Trong thời kỳ đổi mới, sự phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước (KTNN) phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; là quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời thể hiện tư duy đổi mới sáng tạo của Đảng trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững. Việc nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không chỉ góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển tư duy kinh tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới, mà còn là cơ sở quan trọng để phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở vận dụng phương pháp luận mácxít trong nghiên cứu lịch sử Đảng, bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic; đồng thời sử dụng một số phương pháp khác như: thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp trong tiếp cận nghiên cứu liên ngành nhằm luận giải quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN qua 40 năm đổi mới.
 
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2. 1. Nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước trong 10 năm đầu đổi mới (1986-1996)
Trước năm 1986, nền kinh tế Việt Nam vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp. Trong cơ chế đó, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được xác định là hai thành phần kinh tế chủ yếu, giữ vai trò nền tảng, độc tôn của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước trực tiếp nắm giữ tư liệu sản xuất chủ yếu (đất đai, tài nguyên, nhà máy, xí nghiệp…), quản lý trực tiếp toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông và tiêu dùng thông qua hệ thống kế hoạch hóa tập trung. Tuy nhiên, mô hình kinh tế này dần bộc lộ nhiều hạn chế, không còn phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước, như: sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước kém hiệu quả; mất cân đối cung - cầu; bộ máy quản lý cồng kềnh, quan liêu, yếu kém; nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ kéo dài, hàng hóa luôn thiếu hụt, lạm phát tăng cao, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý và tổ chức lại nền kinh tế quốc dân.
Đại hội VI (1986) của Đảng đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong đổi mới tư duy lãnh đạo phát triển kinh tế của Đảng, trong đó nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN từng bước được điều chỉnh, phát triển phù hợp với yêu cầu mới của thực tiễn. Đại hội xác định “Trong những năm trước mắt, để tiến hành vững chắc công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa, phát huy tác dụng tích cực của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, điều quan trọng nhất là củng cố và phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa, trước hết là làm cho kinh tế quốc doanh thật sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối được các thành phần kinh tế khác (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr.57-58). Đại hội VI của Đảng đã có sự đổi mới quan trọng trong tư duy kinh tế, khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo, đồng thời yêu cầu đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động và phát triển KTNN trong nền kinh tế nhiều thành phần, nhằm huy động mọi nguồn lực trong xã hội để phát triển kinh tế dưới sự quản lý của Nhà nước.
Tiếp đó, HNTƯ 3 khóa VI (8-1987) chủ trương chuyển hoạt động của các đơn vị kinh tế quốc doanh sang hạch toán kinh doanh XHCN, đổi mới quản lý nhà nước về kinh tế, thực hiện chế độ tự chủ sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế cơ sở. Ngày 14-11-1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 217-HĐBT về “Quyết định ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh”. Quyết định có những bước đổi mới quan trọng về quyền tự chủ của các doanh nghiệp nhà nước phát huy, khơi dậy được tiềm năng và sức sáng tạo của người lao động “Xí nghiệp có quyền tự chủ xây dựng và thực hiện kế hoạch dài hạn, trung hạn và ngắn hạn trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình… Phương án kế hoạch của xí nghiệp do giám đốc chỉ đạo xây dựng, có sự tham gia của tập thể công nhân, viên chức và cuối cùng do đại hội công nhân, viên chức quyết định trên nguyên tắc bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ đối với Nhà nước” (Hội đồng Bộ trưởng, 14-11-1987). Tuy nhiên, nhìn tổng thể trong giai đoạn đầu chuyển đổi, nhiều doanh nghiệp nhà nước còn lúng túng, chậm thích ứng với cơ chế mới; tình trạng thua lỗ, kém hiệu quả vẫn diễn ra phổ biến.
Năm 1991, Đại hội VII của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong nhận thức lý luận của Đảng về phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN. Để phát huy vai trò của KTNN, Đại hội chủ trương tiếp tục sắp xếp lại, đổi mới quản lý và từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp đối với các doanh nghiệp quốc doanh; tiếp tục củng cố và phát triển các cơ sở kinh tế trọng điểm, các cơ sở kinh tế làm ăn có hiệu quả, đồng thời kiên quyết giải thể, chuyển hình thức sở hữu hoặc cho thuê đối với những đơn vị làm ăn thua lỗ kéo dài. Đại hội chủ trương “Khẩn trương sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc doanh, bảo đảm kinh tế quốc doanh phát triển có hiệu quả, nắm vững những lĩnh vực và ngành then chốt để phát huy vai trò chủ đạo trong nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr.392). Đây là bước tiến quan trọng trong nhận thức của Đảng về cơ chế thị trường định hướng XHCN và mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế.
Thực hiện chủ trương sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước của Đảng, ngày 7-3-1994, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 90/TTg “Quyết định về tiếp tục sắp xếp doanh nghiệp Nhà nước” và Quyết định số 91/TTg “Quyết định về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh”, theo đó, hàng loạt các tổng công ty nhà nước ra đời (thường gọi tắt là Tổng công ty 90, 91). Việc hình thành các tổng công ty lớn nhằm tập trung nguồn lực, nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh nền kinh tế từng bước mở cửa và hội nhập. HNTƯ 7 khóa VII (7-1994) tiếp tục nhấn mạnh tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhà nước phát huy quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động; đồng thời bảo đảm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trước pháp luật, cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh theo yêu cầu của cơ chế thị trường.
Có thể thấy, giai đoạn 1986-1996 là thời kỳ hình thành nhận thức mới của Đảng về vai trò của KTNN trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Nếu Đại hội VI (1986) mở đầu cho quá trình đổi mới tư duy kinh tế, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần và từng bước chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh XHCN, thì Đại hội VII (1991) đã khẳng định rõ hơn việc phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.
2. 2. Nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (1996-2011)
Đại hội VIII (1996) của Đảng  đánh dấu bước chuyển quan trọng của công cuộc đổi mới khi đất nước chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH. Đại hội khẳng định, KTNN cùng với kinh tế hợp tác dần trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Đại hội xác định: “Tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo: làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần khác cùng phát triển; làm lực lượng vật chất để Nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ xã hội mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr.696). Điểm mới quan trọng trong nhận thức của Đảng là mở rộng nội hàm của KTNN, không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước mà còn cả ngân sách nhà nước, tài chính, tín dụng, dự trữ quốc gia và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước. Đại hội yêu cầu tiếp tục đổi mới, sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước theo hướng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tập trung vào các ngành, các lĩnh vực trọng yếu như tài chính, ngân hàng, năng lượng, giao thông, viễn thông và những lĩnh vực liên quan đến an ninh kinh tế quốc gia. Đại hội cũng nhấn mạnh vai trò chủ đạo của KTNN không chỉ thể hiện ở quy mô hay số lượng doanh nghiệp, mà chủ yếu ở năng lực chi phối, dẫn dắt, điều tiết và hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển theo định hướng XHCN. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vai trò chủ đạo của KTNN được hiểu thực chất hơn, phù hợp hơn với quy luật của kinh tế thị trường.
Đại hội IX (2001) của Đảng tiếp tục phát triển nhận thức rõ nét hơn về vai trò của KTNN, đánh dấu bước chuyển mạnh sang nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của KTNN. Đại hội khẳng định các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế, cùng tồn tại lâu dài, hợp tác và cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật. Trong bối cảnh đó, vai trò chủ đạo của KTNN không chỉ được đánh giá qua số lượng doanh nghiệp, mà thể hiện ở việc nắm giữ các lĩnh vực then chốt và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Đại hội chủ trương: “Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả các tổng công ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con, kinh doanh đa ngành tổng hợp trên cơ sở ngành chuyên môn hóa, gọi vốn thuộc nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia kinh doanh, làm nòng cốt để hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh ở một số ngành và lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế quốc dân như viễn thông, hàng không, dầu khí,...” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr.1080). Quan điểm của Đại hội IX phản ánh bước phát triển mới trong tư duy kinh tế của Đảng, chuyển từ tư duy coi trọng số lượng doanh nghiệp nhà nước sang chú trọng hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của khu vực KTNN gắn với sự nhận thức đầy đủ hơn về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, làm rõ hơn vai trò chủ đạo và mối quan hệ giữa KTNN với các thành phần kinh tế khác trong nền kinh tế quốc dân.
Đứng trước yêu cầu đổi mới, phát triển và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tháng 8-2001, HNTƯ 3 khóa IX thông qua Nghị quyết số 05-NQ/TW “Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”. Nghị quyết chủ trương các doanh nghiệp nhà nước phải tập trung vào những ngành, lĩnh vực trọng yếu mà Nhà nước cần nắm giữ, đẩy mạnh sắp xếp, cổ phần hóa và đổi mới quản trị doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và sức cạnh tranh. Nghị quyết yêu cầu tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp; tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm và hoạt động theo cơ chế thị trường. Đồng thời, nhấn mạnh việc bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, xử lý các doanh nghiệp yếu kém, khắc phục tình trạng bao cấp và đầu tư kém hiệu quả. Đây là cơ sở quan trọng trong quá trình phát triển nhận thức của Đảng về phát triển KTNN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong bối cảnh mới.
Đại hội X (2006) của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của KTNN trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Đại hội xác định: “Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân có vai trò quan trọng, là một trong những động lực của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr.103). Đại hội cũng nhấn mạnh, KTNN giữ vai trò chủ đạo thông qua việc nắm giữ các ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng, thực hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, chứ không duy trì sự hiện diện dàn trải ở mọi ngành nghề. Đồng thời yêu cầu đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, kể cả một số tổng công ty lớn, nhằm đổi mới mô hình quản trị và huy động thêm các nguồn lực xã hội. Ngoài ra, Đại hội X của Đảng cũng chú trọng phát triển đồng bộ các loại thị trường, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Đây là bước tiến mới so với Đại hội IX của Đảng, thể hiện tư duy đổi mới ngày càng phù hợp hơn với kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Như vậy, trong giai đoạn 1996-2011, nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN đã có bước phát triển quan trọng. Nếu trước đây vai trò chủ đạo của KTNN chủ yếu được nhìn nhận từ góc độ sở hữu và quy mô doanh nghiệp, thì đến giai đoạn này Đảng ngày càng nhấn mạnh hiệu quả hoạt động, năng lực điều tiết vĩ mô và vai trò nắm giữ các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy kinh tế của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
2.3. Nhận thức của Đảng về vai trò của kinh tế nhà nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng và bước vào thời kỳ phát triển mới (2011-2026)
Đại hội XI (2011) của Đảng diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thế giới có nhiều biến động, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt, yêu cầu tái cơ cấu nền kinh tế đặt ra cấp bách hơn. Vì vậy, Đại hội xác định “Phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019b, tr.464). Đại hội cũng xác định tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước là một trong ba khâu đột phá chiến lược của quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng. KTNN được yêu cầu phải tập trung vào các lĩnh vực then chốt, thiết yếu, quốc phòng, an ninh và những ngành mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư. So với các giai đoạn trước, Đại hội XI của Đảng có nhận thức thực chất hơn được thể hiện chủ yếu ở năng lực dẫn dắt, điều tiết nền kinh tế và nắm giữ các lĩnh vực then chốt, thay vì mở rộng quy mô hay số lượng doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, Đảng yêu cầu nâng cao hiệu quả tính công khai, minh bạch, áp dụng quản trị hiện đại và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước
Đại hội XII (2016) của Đảng tiếp tục phát triển nhận thức về vai trò của KTNN trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đại hội xác định “Thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động theo cơ chế thị trường, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2019a, tr.787). Đảng yêu cầu cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường; tập trung vào các lĩnh vực then chốt, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Tư duy của Đảng đã chuyển từ trọng tâm tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước sang nhấn mạnh chất lượng tăng trưởng, hiệu quả hoạt động, năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011-2020 cũng đặc biệt chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước; đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, nhất là các tập đoàn và tổng công ty nhà nước; thực hiện cổ phần hóa, đổi mới quản trị và minh bạch hoạt động theo cơ chế thị trường. Đặc biệt, HNTƯ 5 khóa XII (6-2017) thông qua Nghị quyết số 12-NQ/TW “Về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về KTNN và doanh nghiệp nhà nước. Nghị quyết đã đề ra nhiều chủ trương quan trọng về: cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước theo nguyên tắc tập trung vào những lĩnh vực then chốt, thiết yếu; những địa bàn quan trọng và quốc phòng, an ninh; những lĩnh vực mà doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không đầu tư;…
Để tách bạch chức năng quản lý nhà nước với chức năng chủ sở hữu vốn, ngày 3-2-2018, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 09/NQ-CP “Về thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp”, có chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và phần vốn nhà nước đầu tư tại các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên theo quy định của pháp luật. Chủ trương của Đảng và Chính phủ thể hiện quyết tâm xây dựng doanh nghiệp nhà nước thực sự hiệu quả, có năng lực cạnh tranh và đóng vai trò chủ đạo, dẫn dắt nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Đại hội XIII (2021) của Đảng yêu cầu cơ cấu lại, đổi mới, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước theo cơ chế thị trường; tiếp tục xác định xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng. Vai trò của KTNN được Đại hội xác định “là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường... Doanh nghiệp nhà nước tập trung vào lĩnh vực then chốt, địa bàn quan trọng, quốc phòng, an ninh; hoạt động theo cơ chế thị trường, quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế; lấy hiệu quả kinh tế làm tiêu chí đánh giá chủ yếu, cạnh tranh bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.129).
Cùng với quá trình đổi mới đất nước, nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN ngày càng được phát triển và hoàn thiện, tạo điều kiện để KTNN thực sự giữ vai trò chủ đạo, chi phối và dẫn dắt các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế quốc dân. Thực tiễn cho thấy, KTNN đã có những đóng góp quan trọng vào tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước, tổng thu ngân sách nhà nước, giải quyết việc làm và góp phần quan trọng vào thực hiện các chính sách xã hội, xóa đói giảm nghèo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm dịch vụ công ích thiết yếu cho xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai... Tuy nhiên, quá trình sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước đã giảm đáng kể số lượng doanh nghiệp và lao động trong khu vực này. Theo số liệu của Tổng cục thống kê, năm 2000 cả nước có 5.759 doanh nghiệp nhà nước với gần 2,09 triệu lao động (Niên giám thống kê, 2005, tr.115,121); đến năm 2020 chỉ còn 1.963 doanh nghiệp với hơn 1 triệu lao động (Niên giám thống kê, 2021, tr.409, 340). Đóng góp vào GDP năm 2000 là 170.141 tỷ đồng (chiếm 38,52%) (Niên giám thống kê, 2005, tr.62, 64); năm 2020 là 1.662.352 tỷ đồng (chiếm 20,67% GDP) (Niên giám thống kê năm 2021, tr.194, 196). Đóng góp vào tổng thu ngân sách nhà nước (không tính thu từ dầu thô) năm 2000 là 19.692 tỷ đồng (chiếm 21,70%) (Niên giám thống kê, 2005, tr.73, 74); năm 2020 là 148.183 tỷ đồng (chiếm 9,81%) (Niên giám thống kê, 2021, tr.205, 206).
Ngày 6-1-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW “Về phát triển kinh tế nhà nước”. Nghị quyết được ban hành là bước phát triển nhận thức quan trọng của Đảng về phát triển KTNN trong kỷ nguyên mới của dân tộc. Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định KTNN giữ vai trò chủ đạo, Nghị quyết còn mở rộng và cụ thể hóa nội hàm của KTNN, bao gồm toàn bộ các nguồn lực do nhà nước nắm giữ và chi phối như: đất đai, tài nguyên, ngân sách, hạ tầng, quỹ tài chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Nghị quyết nhấn mạnh vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là “bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hóa và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh” (Bộ Chính trị, 6-1-2026, tr.2). Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu quản lý, sử dụng hiệu quả các nguồn lực nhà nước theo nguyên tắc thị trường, chống thất thoát, lãng phí và tách bạch nhiệm vụ công ích với hoạt động sản xuất kinh doanh và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa KTNN với các thành phần kinh tế khác và nhấn mạnh vai trò tiên phong của doanh nghiệp nhà nước trong đổi mới sáng tạo, công nghệ cao và các ngành chiến lược. Để tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo của KTNN trong bối cảnh mới, Đại hội XIV (2026) của Đảng xác định: “Phát triển kinh tế nhà nước thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.268). Đại hội XIV của Đảng và Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị nhận thức toàn diện và sâu sắc hơn về vị trí, vai trò, nội hàm, chức năng và cơ chế vận hành của KTNN trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.
 
3. Kết luận
Trải qua 40 năm đổi mới, nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN không ngừng được điều chỉnh, bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu thực tiễn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Qua các kỳ Đại hội (từ Đại hội VI đến Đại hội XIV), nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN ngày càng rõ ràng và toàn diện. Từ chỗ nhấn mạnh KTNN chủ yếu là khu vực sở hữu công cộng giữ vị trí độc tôn trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, Đảng đã từng bước phát triển nhận thức theo hướng xác định KTNN là lực lượng vật chất quan trọng để nhà nước định hướng, điều tiết, dẫn dắt, chi phối các lĩnh vực then chốt, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững. Đồng thời, Đảng ngày càng chú trọng đổi mới quản trị, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp nhà nước; bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế theo cơ chế thị trường. Sự phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn nhất quán và sáng tạo, thể hiện tư duy và tầm nhìn của Đảng. Đây là cơ sở quan trọng để Đảng tiếp tục lãnh đạo hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát huy vai trò của KTNN trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hội nhập quốc tế sâu rộng, phát triển nhanh và bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
 
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (6-1-2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW về Phát triển kinh tế nhà nước. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-79-nq-tw-ngay-6-1-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-kinh-te-nha-nuoc.html
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019a). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2019b). Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới. Phần II (Đại hội X, XI, XII). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Tập II. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật
Hội đồng Bộ trưởng (14-11-1987). Quyết định số 217-HĐBT về Quyết định ban hành các chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Doanh-nghiep/Quyet-dinh-217-HDBT-chinh-sach-doi-moi-ke-hoach-hoa-va-hach-toan-kinh-doanh-Xa-hoi-chu-nghia-doi-voi-xi-nghiep-quoc-doanh-37429.aspx
Tổng Cục thống kê. (2005). Niên giám thống kê. Nxb Thống kê. https://www.nso.gov.vn/default/2020/02/nien-giam-thong-ke-2005/
Tổng Cục thống kê. (2021). Niên giám thống kê. Nxb Thống kê.. https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2022/08/nien-giam-thong-ke-2021-2/.
TS NGUYỄN VIỆT PHƯƠNG
Học viện Chính trị khu vực I
Ảnh minh họa: Tạp chí Kinh tế tài chính
1. Đặt vấn đềTrong thời kỳ đổi mới, sự phát triển nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước (KTNN) phản ánh sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam; là quá trình tổng kết thực tiễn sâu sắc trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, đồng thời thể hiện tư duy đổi mới sáng tạo của Đảng trong xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát triển nhanh và bền vững. Việc nghiên cứu quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vai trò của KTNN có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, không chỉ góp phần làm sáng tỏ quá trình phát triển tư duy kinh tế của Đảng trong thời kỳ đổi mới, mà còn là cơ sở quan trọng để phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc

Tin khác cùng chủ đề

Nâng cao hiệu quả công tác xây dựng tổ chức đảng, phát triển và quản lý đảng viên ở nước ngoài
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính quyền cấp xã và sự vận dụng của Đảng trong xây dựng chính quyền cấp cơ sở hiện nay
Khánh Hòa triển khai hiệu quả các chủ trương của Trung ương về công tác bố trí cán bộ
Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV về phát triển nhanh, bền vững và giải pháp thực hiện trong kỷ nguyên mới
Bối cảnh chính trị thế giới - thách thức và cơ hội phát triển cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đặc điểm cơ bản tư tưởng chính trị - xã hội của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tiến trình cách mạng Việt Nam

Gửi bình luận của bạn