Phát triển nhanh, bền vững là định hướng đúng đắn của Đảng để lãnh đạo phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới. Đến năm 2025, đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng trên mọi phương diện, nhưng bên cạnh đó vẫn còn một số yếu tố chưa bền vững. Trước những yêu cầu, đòi hỏi trong kỷ nguyên phát triển mới, Đại hội XIV (2026) của Đảng tiếp tục đề ra những quan điểm và giải pháp thực hiện phát triển nhanh, bền vững đất nước nhằm hoàn thành mục tiêu đến năm 2045, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV về phát triển nhanh, bền vững và giải pháp thực hiện trong kỷ nguyên mới
Quan điểm của Đảng tại Đại hội XIV về phát triển nhanh, bền vững và giải pháp thực hiện trong kỷ nguyên mới
1. Đặt vấn đề
Phát triển nhanh, bền vững là định hướng chiến lược có ý nghĩa nền tảng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự biến động ngày càng phức tạp về chính trị, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường sống hiện nay. Đó cũng là xu thế tất yếu và là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia. Việt Nam đi lên xây dựng CNXH với điều kiện xuất phát điểm thấp, nền tảng cơ bản cho sự nghiệp cách mạng XHCN đều thiếu và yếu. Vì vậy, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững là tất yếu khách quan, là con đường thích hợp nhất để đưa Việt Nam nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Nhận thức rõ xu thế thời đại và những hạn chế, “điểm nghẽn” trong quá trình đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước phát triển tư duy, lý luận về phát triển nhanh, bền vững phù hợp với điều kiện và yêu cầu, nhiệm vụ phát triển đất nước. Tại Đại hội XIV (1-2026), Đảng tiếp tục đề ra quan điểm toàn diện và giải pháp cụ thể để lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới. Nghiên cứu những quan điểm và giải pháp phát triển nhanh, bền vững của Đảng tại Đại hội XIV nhằm khẳng định tính đúng đắn, nhất quán về quan điểm định hướng phát triển đất nước của Đảng trong suốt thời kỳ đổi mới; đồng thời phân tích, đánh giá để thấy rõ tính thực thi trong việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành như: lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh. Phương pháp lịch sử nhằm hệ thống hóa chủ trương của Đảng về phát triển nhanh, bền vững đất nước, theo đúng trình tự thời gian và bối cảnh cụ thể, bảo đảm tính chân thực và khách quan của nhận thức lịch sử. Phương pháp logic được sử dụng để đánh giá những thành tựu, hạn chế, chỉ rõ tồn tại và những yêu cầu đặt ra cho việc phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới. Phương pháp tổng hợp nhằm tập hợp tư liệu; tổng hợp quan điểm, giải pháp, số liệu. Phương pháp phân tích và phương pháp so sánh nhằm làm rõ sự phát triển nhận thức của Đảng về phát triển nhanh, bền vững trước Đại hội XIV và nội dung quan điểm, giải pháp đề ra tại Đại hội XIV. Các phương pháp sử dụng trong bài nhằm bảo đảm tính Đảng, tính khoa học cho kết quả nghiên cứu.

3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thực trạng và yêu cầu tiếp tục phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới
Vấn đề phát triển bền vững lần đầu tiên được Đảng đề ra trong Văn kiện Đại hội VIII (1996) đến Đại hội IX (2001), quan điểm phát triển nhanh gắn với phát triển bền vững của Đảng mới chính thức hình thành. Dựa trên lý thuyết khoa học về phát triển bền vững (được các quốc gia nhìn nhận và đặt trong mối quan hệ toàn cầu với 3 trụ cột: bền vững về kinh tế, bền vững về xã hội, bền vững về sinh thái - tài nguyên và môi trường), từ Đại hội VIII đến Đại hội XIII (2021), Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bước bổ sung quan điểm về phát triển nhanh, bền vững ở Việt Nam gồm 4 trụ cột: (1) Tăng trưởng kinh tế bền vững; (2) Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thúc đẩy tiến bộ xã hội; (3) Tăng trưởng kinh tế gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; (4) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo môi trường hòa bình, ổn định.
Quan điểm phát triển nhanh, bền vững của Đảng đã được cụ thể hóa thành đường lối và triển khai vào thực tiễn công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, nhằm đưa Việt Nam phát triển trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Đến năm 2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, các cân đối lớn được bảo đảm; tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, quy mô GDP đạt 514 tỉ USD, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, chất lượng tăng trưởng có bước chuyển biến tích cực, đóng góp của các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế đạt khoảng 47%, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Tăng trưởng kinh tế gắn kết chặt chẽ hơn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm còn 1,3%, tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh là 74,8 năm. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc xếp thứ 46/143 quốc gia. Quản lý và sử dụng tài nguyên; bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai được tăng cường. Quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, tăng cường. Quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế được nâng tầm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.  47-53).
Đại hội XIV của Đảng (2026) khẳng định, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước,“tiềm lực, sức chống chịu và khả năng thích ứng đã được nâng lên, tạo nền tảng và dư địa quan trọng phát triển nhanh và bền vững hơn nữa trong giai đoạn tới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.  17). Những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới đã mở ra diện mạo, tầm vóc mới cho đất nước trên con đường xây dựng CNXH; tạo nền tảng quan trọng và khí thế, khát vọng mới để “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.  84).
Mục tiêu mang tầm nhìn chiến lược trong kỷ nguyên phát triển mới được Đảng xác định tại Đại hội XIV: “…đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 84). Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số”, trước hết trong giai đoạn 2026-2030, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10% trở lên, “Đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất” (Tô Lâm, 2026).
Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được, đánh giá tổng thể đến năm 2025, Việt Nam vẫn còn những yếu tố phát triển thiếu bền vững. “Tăng trưởng kinh tế vẫn dưới mức tiềm năng, chưa đạt mục tiêu đề ra. Năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân 5 năm đạt 5,3%, thấp hơn mục tiêu đề ra, hệ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn còn cao (6,4). Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế còn chậm. Năng lực, trình độ công nghệ còn yếu, thiếu những ngành công nghiệp nền tảng, công nghệ chiến lược làm nòng cốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa trở thành động lực chính cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển đất nước. Kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, còn yếu, thiếu và chưa theo kịp yêu cầu…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 64-65). Do đó, yêu cầu hàng đầu đặt ra là phải tăng cường nền tảng để phát triển nhanh, bền vững.
Về phương diện bền vững xã hội, tăng trưởng kinh tế chưa đủ mạnh, chưa tạo ra những bước đột phá để thúc đẩy nhanh tiến bộ xã hội. Nguy cơ bao trùm là sự tụt hậu, nhất là về công nghệ và rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Thu nhập bình quân đầu người tăng nhưng vẫn còn khoảng cách khá xa so với tiêu chí của một nước phát triển và ngay cả với mục tiêu gần đến năm 2030 (đạt khoảng 8.500 USD) (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.I, tr. 84). An sinh xã hội, an ninh con người, phúc lợi xã hội chưa được bảo đảm vững chắc. Sự phân hoá giàu - nghèo có xu hướng gia tăng. Một số vấn đề của xã hội số chậm được nhận diện và thiếu cơ chế xử lý kịp thời. Tăng trưởng kinh tế gắn với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu còn nhiều bất cập. Việc quản lý, sử dụng tài nguyên, khoáng sản, nhất là đất đai và nguồn nước hiệu quả chưa cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.I, tr. 65-67).
Bên cạnh đó, giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo, dự báo các yếu tố tác động bất lợi đến việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững ở Việt Nam là rất lớn, có những mặt gay gắt, nặng nề hơn so với giai đoạn trước. Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, đặt ra những thách thức lớn đối với sự phát triển của đất nước, nhất là vấn đề độc lập, tự chủ, tự cường. Những vấn đề an ninh phi truyền thống như biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… ngày càng chuyển biến khó lường và tiềm ẩn những hậu quả nghiêm trọng.
Đối với sự lãnh đạo của Đảng, “Tư duy phát triển chưa theo kịp các xu thế phát triển của thế giới, phản ứng chính sách chưa kịp thời, chậm điều chỉnh và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong giai đoạn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 80). Điều đó đòi hỏi Đảng cần tiếp tục đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn và những giải pháp phù hợp để đẩy lùi nguy cơ, tranh thủ hiệu quả thời cơ, khắc phục những hạn chế đang tồn tại, lãnh đạo đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc.
3.2. Quan điểm cơ bản của Đảng tại Đại hội XIV về phát triển nhanh, bền vững và một số giải pháp thực hiện trong kỷ nguyên mới
Tiếp tục kế thừa quan điểm từ Đại hội VIII đến Đại hội XIII về phát triển nhanh, bền vững, Đại hội XIV của Đảng nêu 5 quan điểm chỉ đạo phát triển đất nước, nội dung cơ bản gồm: “(1) Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. (2) Nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên. (3) Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hoá, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước… (4) Phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ của con người Việt Nam, khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thế trận lòng dân; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế… (5) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đoàn kết thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 81-83). Đại hội XIV nhấn mạnh quan điểm bao trùm: “phát triển nhanh nhưng phải bền vững” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 29), “lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 86).
Trong 5 quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội XIV, cụm từ phát triển nhanh, bền vững được nhắc đến trong cả ba quan điểm đầu tiên. Điều đó cho thấy tầm quan trọng và khát vọng của việc phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới, nhằm nhanh chóng hoàn thành mục tiêu được Đại hội XIV của Đảng đề ra: đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, vững bước đi lên CNXH.
Điểm mới trong nhận thức về phát triển nhanh, bền vững đất nước tại Đại hội XIV của Đảng thể hiện qua việc xác định rõ hơn động lực điều kiện phát triển nhanh, bền vững. Về động lực: Đại hội XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển; văn hóa và con người là sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển đất nước; đại đoàn kết toàn dân tộc là nền tảng sức mạnh quốc gia tạo nên sức mạnh vô địch để đưa đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách và vươn tới phát triển phồn vinh, hùng cường. Về điều kiện: Đại hội XIV khẳng định giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi.
Để đạt được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới, trên cơ sở quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIV đã xác định những giải pháp cơ bản:
Thứ nhất, xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đại hội XIV nhấn mạnh thể chế là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”, do đó phải “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 86).
Đại hội XIV xác định nhiệm vụ để tháo gỡ, giải quyết “điểm nghẽn” là: “Phải tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, tháo gỡ rào cản, khơi thông nguồn lực, tạo động lực phát triển mới. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản trị phát triển quốc gia theo hướng hiện đại, minh bạch, trách nhiệm giải trình cao; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực; siết chặt kỷ luật, kỷ cương hành chính; xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, liêm chính, phục vụ… Đồng thời thiết kế cơ chế kiểm soát quyền lực để quyền lực luôn trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức, văn hóa, truyền thống dân tộc và niềm tin của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 28-29).
Thứ hai, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững. Đại hội XIV định hướng giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững đó là: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; tạo ra sức sản xuất và phương thức sản xuất mới chất lượng cao, trọng tâm là kinh tế dữ liệu, kinh tế số; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực… Hình thành các cực tăng trưởng mạnh, các vùng kinh tế trọng điểm, các đô thị, các đặc khu kinh tế thế hệ mới ngang tầm khu vực và toàn cầu… Đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 90-91). Đối với các khu vực kinh tế, cần phát huy đầy đủ chức năng, vai trò các thành phần kinh tế. Trong đó, phát triển kinh tế nhà nước hiệu quả, thật sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng... Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài; tập trung chủ yếu cho phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, phát thải thấp.
Thứ ba, phát triển xã hội bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Phát triển xã hội bền vững là phát triển cho con người, vì con người, vì hạnh phúc con người. Đó vừa là mục tiêu phát triển, vừa là đặc trưng, bản chất tốt đẹp của chế độ, góp phần quan trọng bảo đảm định hướng XHCN. Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh để đất nước, dân tộc phát triển bền vững, “cần xây dựng một xã hội lành mạnh về đạo đức, kỷ cương về pháp luật, văn hóa trong ứng xử, văn minh trong quản trị, an toàn trong đời sống, tiến bộ trong phát triển. Kiên trì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr. 35). Phát triển kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội; Xây dựng cơ cấu xã hội hợp lý trên cơ sở hệ thống giá trị, chuẩn mực xã hội. Đẩy mạnh xây dựng chính phủ số, xã hội số, đáp ứng yêu cầu kiến tạo phát triển và quản lý phát triển xã hội bền vững… Bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, an ninh xã hội và an ninh con người.
Thứ tư, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Bảo vệ môi trường, tăng cường quản lý tài nguyên, chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu được xác định là một trụ cột quan trọng trong tiến trình phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đại hội XIV của Đảng định hướng giải pháp cơ bản: Hoàn thiện đồng bộ pháp luật, cơ chế, chính sách, quy hoạch về quản lý tổng hợp, sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, ngăn chặn suy giảm đa dạng sinh học, duy trì cân bằng sinh thái. Chú trọng hợp tác quốc tế trong việc quản lý và sử dụng nguồn nước bảo đảm lợi ích quốc gia. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, cơ chế ưu đãi quốc tế phục vụ chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Thứ năm, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tạo môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển nhanh, bền vững. Đại hội XIV của Đảng xác định giữ vững môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện tiên quyết để phát triển nhanh, bền vững. Giải pháp đề ra là: Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ XHCN; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH. Tăng cường quốc phòng toàn dân, phòng thủ chủ động; ngăn ngừa, đẩy lùi từ sớm các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững và củng cố môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước. Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia. Thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội và đối ngoại để phát huy sức mạnh mềm Việt Nam góp phần tạo thế và lực mới cho đất nước.

4. Kết luận
Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định nhận thức đúng đắn, cần thiết, đồng thời có quan điểm sâu sắc, toàn diện hơn về phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới; trong đó, quan điểm cốt lõi là bảo đảm phát triển nhanh nhưng phải bền vững. Cùng với các quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIV đã đề những giải pháp cơ bản xoay quanh bốn trụ cột chính gồm: kinh tế, xã hội, môi trường và quốc phòng - an ninh; nhằm giải quyết hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường - tài nguyên và bảo đảm vững chắc quốc phòng - an ninh, tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh, bền vững. Điểm mới cũng là điểm nhấn trọng tâm về nhiệm vụ, giải pháp được Đại hội XIV đề ra, đó là xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững đất nước. Đây chính là cơ sở để Việt Nam tự chủ, tự tin, tự cường vững bước trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc; phấn đấu hoàn thành mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn 2026-2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
 
Tài liệu tham khảo:
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. (Tập I). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật
Tô Lâm. (2026). Phát biểu tại Bế mạc Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. dangcongsan.vn/tin-hoat-dong/toan-van-phat-bieu-cua-tong-bi-thu-to-lam-be-mac-hoi-nghi-lan-thu-hai-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xiv.html. Ngày đăng tải: 25-3-2026.
TS TRẦN THỊ NHẪN
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: ttnhanlsd@gmail.com
1. Đặt vấn đềPhát triển nhanh, bền vững là định hướng chiến lược có ý nghĩa nền tảng, quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự biến động ngày càng phức tạp về chính trị, biến đổi khí hậu và suy thoái môi trường sống hiện nay. Đó cũng là xu thế tất yếu và là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của các quốc gia. Việt Nam đi lên xây dựng CNXH với điều kiện xuất phát điểm thấp, nền tảng cơ bản cho sự nghiệp cách mạng XHCN đều thiếu và yếu. Vì vậy, yêu cầu phát triển nhanh, bền vững là tất yếu khách quan, là con đường thích hợp nhất để đưa Việt Nam nhanh chóng trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng XHCN. Nhận thức rõ xu thế thời

Tin khác cùng chủ đề

Bối cảnh chính trị thế giới - thách thức và cơ hội phát triển cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Đặc điểm cơ bản tư tưởng chính trị - xã hội của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tiến trình cách mạng Việt Nam
Tinh thần tích cực, chủ động của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) - Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm đối với tiến trình cách mạng Việt Nam
Sự tham gia của phụ nữ trong Hội đồng nhân dân cấp xã – Thực trạng, rào cản và hàm ý chính sách
Tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong bối cảnh chính quyền địa phương hai cấp
Quyền con người: giá trị phổ quát của nhân loại, nền tảng định hướng cho đổi mới quản trị quốc gia ở Việt Nam

Gửi bình luận của bạn