Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) là sự kiện lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc trong tư duy lãnh đạo và sự nhạy bén chính trị của Đảng. Tròn 85 năm (5/1941- 5/2026) nhìn lại, những nội dung được thông qua tại Hội nghị vẫn còn nguyên tính thời sự, trong đó tinh thần tích cực, chủ động cách mạng có ý nghĩa chỉ dẫn sâu sắc đối với tiến trình phát triển của dân tộc Việt Nam.

Tinh thần tích cực, chủ động của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) - Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm đối với tiến trình cách mạng Việt Nam
Tinh thần tích cực, chủ động của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) - Ý nghĩa và bài học kinh nghiệm đối với tiến trình cách mạng Việt Nam

Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông dương lần thứ VIII (5/1941) quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh (Ảnh Tư liệu BTLSQG).

1. Đặt vấn đề
Đối với sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng, tinh thần tích cực, chủ động được thể hiện ở sự năng động trong phân tích, dự báo đúng tình hình, nắm bắt đúng thời cơ, kịp thời đề ra chủ trương, đường lối sát đúng với những biến chuyển của thời cuộc, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện từ sớm, từ xa, chủ động ứng phó với mọi tình huống... V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: Đảng cách mạng nào “Biết tìm thấy, biết dự đoán, biết nhận định đúng con đường cụ thể hay bước ngoặt đặc biệt của tình thế, có thể sẽ đưa quần chúng tới cuộc đấu tranh cách mạng lớn lao, chân chính, quyết định và cuối cùng” (V.I.Lênin, 2005, T.41, tr.103). Ở Việt Nam, để có được thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thành quả của 15 năm chuẩn bị công phu và lâu dài với quá trình nắm bắt tình hình, kịp thời điều chỉnh rồi quyết định “thay đổi chiến lược”, nhân tố quyết định thành công của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc được quyết định tại HNTƯ 8 (5-1941). Quá trình để đi đến quyết định đó, đúng như V.I. Lênin đã chỉ rõ: “khởi nghĩa là một phương trình mà thông số hết sức không xác định và hàng ngày trị số của nó có thể thay đổi” (V.I.Lênin, 2006, T.34, tr.440). Song, chỉ tới HNTƯ 8 (5-1941), với tinh thần chủ động và tích cực, kiên quyết và chắc chắn, Đảng đã xác định nhiều vấn đề mang tính chiến lược và sách lược, tạo bước ngoặt quyết định tiến tới cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Tinh thần ấy cùng những bài học, kinh nghiệm của HNTƯ 8 (5-1941) có giá trị tiếp nối trong những chặng đường lịch sử và trong hiện thực hóa những mục tiêu Đại hội XIV của Đảng
Phương pháp nghiên cứu: Để làm rõ tinh thần tích cực, chủ động của Đảng tại HNTƯ 8 (5-1941) và ý nghĩa, bài học kinh nghiệm đối với tiến trình cách mạng Việt Nam, bài viết sử dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic là chủ yếu. Phương pháp lịch sử được sử dụng nhằm tái hiện một cách khách quan diễn tiến lịch sử và những nội dung thể hiện tinh thần tích cực, chủ động cách mạng của HNTƯ 8 (5-1941). Phương pháp logic được sử dụng để phân tích, làm rõ bản chất, ý nghĩa tinh thần tích cực, chủ động cách mạng của Hội nghị đối với tiến trình cách mạng Việt Nam và đúc kết một số bài học kinh nghiệm còn nguyên giá trị trong giai đoạn hiện nay.

2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Tinh thần tích cực, chủ động cách mạng - điểm sáng nổi bật của Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941)
Thứ nhất, nắm bắt, dự báo đúng tình hình, chủ trương “thay đổi chiến lược”, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) diễn ra trong bối cảnh cuộc Chiến tranh thế giới II có nhiều chuyển biến rất phức tạp cả về mức độ tàn khốc và phạm vi ảnh hưởng: “cuộc chém giết lần lần lại lan tràn khắp các dân tộc khác không chừa một dân tộc nào” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.97), “nhân loại lại bị thiêu tàn đốt hoang gấp 100-1000 lần trước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.97). Trên cơ sở phân tích đặc điểm và những diễn tiến của tình hình, Đảng nhận định: Phát xít Đức sẽ tấn công Liên Xô, cuộc chiến tranh Thái Bình Dương sẽ bùng nổ và phong trào cách mạng thế giới sẽ phát triển mạnh mẽ. Hội nghị dự đoán: “Nếu cuộc đế quốc chiến tranh lần trước đã đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, sẽ do đó mà cách mạng nhiều nước thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.100).
Hội nghị đã phân tích những chuyển biến mạnh mẽ trong lòng xứ Đông Dương khi bị thực dân Pháp lôi cuốn vào vòng xoáy chiến tranh: “kinh tế đổ nát, chính trị rối rắm và cách mạng phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.103); tất cả các giai cấp, tầng lớp đều đã rên xiết dưới hai tầng áp bức bóc lột của đế quốc Pháp-Nhật, “các dân tộc Đông Dương không thể nào chịu được. Đế quốc Pháp-Nhật chẳng những áp bức các giai cấp thợ thuyền, dân cày, mà chúng nó áp bức bóc lột cả các dân tộc không chừa một hạng nào. Dẫu là anh tư bản, anh địa chủ, một anh thợ hay một anh dân cày đều cảm thấy cái ách nặng nề của đế quốc là không thể nào sống được. Quyền lợi tất cả các giai cấp bị cướp giật, vận mạng dân tộc nguy vong không lúc nào bằng. Pháp-Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của giặc Pháp - Nhật” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.112).
Trên cơ sở phân tích thấu đáo đặc điểm tình hình và dự báo về những chuyển biến của cuộc chiến lần này, Hội nghị quyết định: “cần phải thay đổi chiến lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.118); phải xem “nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.118-119); “cuộc cách mạng Đông Dương hiện tại không phải là cuộc cách mạng tư sản dân quyền, cuộc cách mạng phải giải quyết hai vấn đề: phản đế và điền địa nữa, mà là cuộc cách mạng chỉ phải giải quyết một vấn đề cần kíp “dân tộc giải phóng”, vậy thì cuộc cách mạng Đông Dương trong giai đoạn hiện tại là một cuộc cách mạng dân tộc giải phóng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.119). Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.113).
Hội nghị đã phản ánh rõ nét tinh thần tích cực, chủ động cách mạng của Đảng trong nhận định đúng đặc điểm tình hình của dân tộc Việt Nam để xác định nhiệm vụ nào trước, nhiệm vụ nào sau. Việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trước hết không phải là Đảng thủ tiêu vấn đề giai cấp trong đấu tranh cách mạng ở Đông Dương, mà là sự cần thiết phải xác định cho được một nhiệm vụ trung tâm cốt lõi để tập trung thực hiện cho kỳ được. Đặt trong mối quan hệ dân tộc và giai cấp, một khi lợi ích dân tộc được đặt ra và trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết thì tất cả những yêu sách của giai cấp mà có hại đến quyền lợi của dân tộc thì phải tạm gác lại để phục vụ cho lợi ích quốc gia dân tộc. Điều này hoàn toàn không trái ngược với chủ nghĩa quốc tế vô sản, với nguyên lý đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là sự bổ sung, phát triển, làm phong phú thêm nền tảng lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng giải phóng dân tộc ở một nước thuộc địa. Việc chủ động đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết đã góp phần to lớn trong việc định hình mục tiêu đấu tranh: vì độc lập, tự do và CNXH, vì nguyện vọng thiết tha của quảng đại quần chúng nhân dân và của cả dân tộc Việt Nam; nhờ đó mà không rơi vào chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, hẹp hòi.
Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) đã nhận thức vấn đề dân tộc ở phạm vi từng quốc gia (tức nói đến sự tự do độc lập của mỗi dân tộc tuỳ theo ý muốn của mỗi dân tộc). Hội nghị nhấn mạnh: “Các dân tộc sống trên cõi Đông Dương sẽ tuỳ theo ý muốn, tổ chức thành liên bang cộng hòa dân chủ hay đứng riêng thành một dân tộc quốc gia tuỳ ý. Một chính phủ cộng hòa mạnh hơn không có quyền bắt các dân tộc nhỏ yếu tuân theo chính sách mình và tham gia chính phủ mình và các dân tộc thiểu số cũng không phải bắt buộc theo các dân tộc đa số và mạnh. Văn hóa của mỗi dân tộc sẽ được tự do phát triển tồn tại, tiếng mẹ đẻ của các dân tộc sẽ được tự do phát triển, tồn tại và được bảo đảm. Sự tự do độc lập của các dân tộc sẽ được thừa nhận và coi trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.113). Điều này thể hiện Đảng đã sớm nhận thức đúng và tích cực, chủ động trong việc thúc đẩy các quyền dân tộc tự quyết của nhân dân ba nước Đông Dương sau khi mỗi nước giành được độc lập và tạo dựng tương lai phát triển về sau.
Thứ hai, tích cực, chủ động trong “chiến thuật vận động” nhằm phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Căn cứ vào sự thay đổi của tình hình, đồng thời trên cơ sở chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước, Hội nghị nhấn mạnh: “lẽ tất nhiên chiến thuật vận động của Đảng ta cũng phải thay đổi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.121); “chiến thuật hiện tại của Đảng ta là phải vận dụng mọi phương pháp hiệu triệu hết sức thống thiết, làm sao đánh thức được tinh thần dân tộc xưa nay trong nhân dân (hơn hết là dân tộc Việt Nam)” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.122) và để “có tính chất dân tộc hơn, cho có một mãnh lực dễ hiệu triệu hơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.122). Hội nghị quyết định: “mặt trận hiệu triệu của Đảng ta hiện nay ở Việt Nam là Việt Nam độc lập đồng minh, hay nói tắt là Việt Minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 122). Nét độc đáo của Mặt trận Việt Minh thể hiện ở chủ trương tập hợp lực lượng rộng rãi các giai tầng trong xã hội: “liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc dân tộc giải phóng và sinh tồn…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr. 461); “Việt Minh sẵn sàng giơ tay đón tiếp những cá nhân hay đoàn thể, không cứ theo chủ nghĩa đế quốc hay quốc gia, miễn thành thực muốn đánh đuổi Nhật, Pháp để dựng lên nước Việt Nam tự do, độc lập” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.461). Hệ thống tổ chức của Việt Minh được xây dựng chặt chẽ từ Tổng bộ ở Trung ương đến tận làng, xã. Các tổ chức thành viên của Việt Minh đều lấy tên chung là Hội cứu quốc nhằm đánh thức lòng ái quốc, khơi dậy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân.
Việc thành lập Mặt trận Việt Minh là một sáng kiến mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc của Đảng và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại HNTƯ 8 (5-1941). Từ đây, lực lượng chính trị của quần chúng được tổ chức, giác ngộ, rèn luyện và đứng lên tranh đấu, khối đại đoàn kết dân tộc không ngừng được củng cố, tạo điểm tựa vững chắc cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Thứ ba, tích cực, chủ động “võ trang khởi nghĩa”
Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) nhận định: “cuộc cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa võ trang” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.129), do đó, “ta phải luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.130). Điểm độc đáo trong tư tưởng của Đảng tại Hội nghị lần này không chỉ nhấn mạnh tới việc xây dựng lực lượng (chính trị và vũ trang) mà còn chủ trương bố trí lực lượng đều khắp trên các địa bàn chiến lược. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh:
“ a) Mở rộng và củng cố các tổ chức cứu quốc sẵn có làm cho các đoàn thể có một tinh thần hy sinh tranh đấu, sẵn sàng gây cuộc khởi nghĩa.
b) Mở rộng các tổ chức vào những nơi thành thị, sản nghiệp, hầm mỏ, đồn điền.
c) Mở rộng sự tổ chức vào các tỉnh phong trào còn yếu ớt và dân tộc thiểu số.
d) Đào luyện cho các đảng viên cộng sản có một tinh thần cương quyết hy sinh.
e) Đào luyện cho các đảng viên đủ năng lực và kinh nghiệm, đủ sức chỉ huy và xoay xở tình thế.
f) Phải có những tổ chức tiểu tổ du kích, du kích chính thức và tổ chức binh lính đế quốc…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.130).
Hội nghị quyết định lấy vùng miền núi Việt Bắc để xây dựng căn cứ vũ trang; trước hết là căn cứ Cao Bằng và căn cứ Bắc Sơn - Võ Nhai.
Những quyết sách này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tạo thế cho cách mạng, để khi thời cơ đến, “với lực lượng sẵn có, ta có thể lãnh đạo cuộc khởi nghĩa từng phần trong từng địa phương cũng có thể giành sự thắng lợi mà mở đường cho một cuộc tổng khởi nghĩa to lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.131-132).
Thứ tư, tích cực, chủ động trong công tác xây dựng Đảng
Ngoài những vấn đề hệ trọng trong hoạch định đường lối, chuẩn bị mọi điều kiện cho khởi nghĩa vũ trang, HNTƯ 8 đặc biệt chú trọng tới công tác xây dựng Đảng, “làm sao cho đủ năng lực lãnh đạo cuộc cách mạng Đông Dương đi đến toàn thắng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.136). Trên cơ sở chỉ ra những khuyết điểm còn tồn tại, Hội nghị nhấn mạnh “phải chú trọng xây dựng lực lượng Đảng đều khắp, đặc biệt là những đô thị tập trung, các đồn điền, hầm mỏ đến các vùng nông thôn và các vùng dân tộc thiểu số” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng, 2018, T.1, Q.1 tr.522); phải gấp rút đào tạo cán bộ “không thể bỏ qua một giờ phút. Tất cả các cấp bộ chỉ huy của đảng phải đặc biệt chú ý công tác này. Những cấp bộ ấy phải mau mau tìm ra những đảng viên trung thành có bảo đảm chắc chắn, có năng lực sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.133). Công tác tập huấn, tuyên truyền; công tác giữ giao thông liên lạc, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được đồng đều và thông suốt cũng được Hội nghị nhấn mạnh.
Với nhiều quyết sách nổi bật nêu trên, HNTƯ 8 (5-1941) là bước ngoặt chiến lược cho cách mạng Việt Nam, tạo tiền đề cho cuộc khởi nghĩa giành chính quyền và nền độc lập dân tộc.
2.2. Ý nghĩa đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam
Tinh thần chủ động, tích cực của HNTƯ 8 (5-1941) có ý nghĩa to lớn quyết định cho chiều hướng phát triển của cách mạng Việt Nam. Nhờ có đường lối đúng đắn, lực lượng cách mạng được tập hợp rộng rãi, căn cứ địa được xây dựng vững chắc và phương thức đấu tranh được xác định rõ ràng, chính Đảng được xây dựng ngang tầm nhiệm vụ… toàn dân tộc Việt Nam đã có đủ tinh thần và lực lượng để khi “thời cơ ngàn năm có một” tới, Đảng và Mặt trận Việt Minh phát động toàn dân Việt Nam vùng lên với tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, giành chính quyền, gây dựng lại nền độc lập dân tộc. Thắng lợi ấy không chỉ chấm dứt ách thống trị của thực dân, phong kiến mà còn mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập, tự do và CNXH cho dân tộc Việt Nam.
Tiếp nối tinh thần ấy, trong suốt 30 năm kháng chiến, bảo vệ độc lập dân tộc, thống nhất đất nước (1945-1975), Đảng luôn phát huy cao độ, đưa đất nước vượt qua những thử thách ở những thời điểm hết sức ngặt nghèo. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đứng trước nguy cơ “ngàn cân treo sợi tóc” của chính quyền và nền độc lập vừa mới giành được, Đảng, Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, kịp thời đề ra đường lối “kháng chiến kiến quốc”, nêu cao khẩu hiệu “Tổ quốc trên hết, dân tộc trên hết”; để từ đó chủ động đoàn kết, tập hợp toàn dân tộc góp sức diệt “giặc đói”, “giặc dốt” và “giặc ngoại xâm”. Tinh thần tích cực, chủ động và mềm dẻo còn được thể hiện rõ nét trong việc đề ra và thực hiện sách lược ngoại giao linh hoạt, mềm dẻo, bảo đảm tính nguyên tắc với kẻ thù: Từ chỗ chủ trương hòa hoãn với Trung Hoa dân quốc để tập trung chống thực dân Pháp; nhưng khi tình thế thay đổi, Đảng chủ trương hòa hoãn với thực dân Pháp để đuổi 20 vạn quân Trung hoa Dân quốc về nước. Đây được xem là một mẫu mực của tư duy tích cực, chủ động “dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc bấy giờ. Nhờ đó, dân tộc Việt Nam có thêm thời gian củng cố thực lực, xây dựng lực lượng cách mạng, xây dựng Đảng ngang tầm để lãnh đạo cuộc kháng chiến, kiến quốc.
Suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tinh thần chủ động, tích cực được Đảng phát huy trong từng chủ trương, quyết sách, trong từng chiến dịch cụ thể. Việc chủ động hoạch định một đường lối kháng chiến với phương châm “toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính” giúp cho Đảng quy tụ được sức mạnh tổng hợp (cả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại) phục vụ cho cuộc kháng chiến trường kỳ. Tích cực tổ chức đánh địch cả ở trong thế phòng ngự, cầm cự và phản công; thậm chí, trong từng chiến dịch cụ thể: từ Việt Bắc - Thu Đông (1947), Biên Giới (1950) và các chiến dịch tiến công tiếp theo ở Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào…, tinh thần chủ động, tích cực của Đảng đã từng bước xoay chuyển tình thế kháng chiến, đánh bại âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp, buộc chúng phải chuyển sang đánh lâu dài; tích cực, chủ động gây dựng thực lực, xây dựng nền kinh tế, văn hóa kháng chiến; đẩy mạnh hoạt động ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của các nước, nhất là Liên Xô và Trung Quốc; đẩy mạnh thế tiến công, tạo bước ngoặt cho những quyết sách trong Chiến cuộc Đông - Xuân 1953-1954, đỉnh cao là Chiến dịch Điện Biên Phủ. Quyết định thay đổi phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” ở Điện Biên Phủ - một chiến dịch mang tính quyết định cho vận mệnh của dân tộc là minh chứng rõ nét tinh thần chủ động, tích cực của Đảng.
Với thắng lợi Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, song đất nước bị chia cắt Bắc - Nam bởi sự xâm lược của đế quốc Mỹ. Toàn dân tộc Việt Nam lại một lần nữa phải đứng lên đấu tranh chống xâm lược, giành thắng lợi hoàn toàn. Quyết tâm ấy đặt trong cục diện thế giới sau năm 1954: xu thế phát triển mới của nhân loại là mong muốn giải quyết các cuộc chiến tranh, xung đột bằng thương lượng, hòa bình; những bất đồng lớn trong phe XHCN, Liên Xô, Trung Quốc về quan điểm đường lối và phương pháp tiến hành chiến tranh cách mạng làm cho phong trào cách mạng, lực lượng cách mạng thế giới bị chia rẽ,… Bối cảnh phức tạp đó đặt ra yêu cầu cho Đảng phải đánh giá chính xác, kịp thời, chủ động và quyết đoán trong xác định kẻ thù, trong hoạch định đường lối và xác định phương pháp đấu tranh.
Với tinh thần chủ động và tích cực, ngay từ HNTƯ 6 khóa II (7-1954), Đảng đã xác định: kẻ thù chính, trực tiếp của dân tộc Việt Nam là đế quốc Mỹ xâm lược và kiên quyết tiến hành cuộc kháng chiến để tiến tới giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Từ đây, tinh thần chủ động, tích cực của HNTƯ 8 (5-1941) tiếp tục soi chiếu trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Điều đó được thể hiện trong những quyết sách mang tính chiến lược của Đảng, như: luôn đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do”; chủ động đề ra đường lối thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: cách mạng XHCN ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam - một đường lối cách mạng chưa từng có trong tiền lệ (cả về lý luận và thực tiễn). Tích cực, chủ động trong lãnh đạo, làm thất bại các chiến lược chiến tranh từ chiến lược chiến tranh điển hình của chủ nghĩa thực dân mới (1954-1960), “chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), “chiến tranh cục bộ” (1965-1968) đến “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975) của 5 đời tổng thống Mỹ có liên đới trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chủ động, tích cực trong tạo lập thế và lực cho cách mạng, đỉnh cao là thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân đánh giặc; thế trận hậu phương với tiền tuyến; thế trận chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, chiến tranh nhân dân với chiến tranh của các binh đoàn chủ lực…. Chủ động, tích cực trong quan hệ quốc tế, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân tiến bộ các nước trên thế giới, đặc biệt là Liên Xô và Trung Quốc khi nhận thức và định vị được thế kháng chiến của dân tộc phải “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”. Chủ động, tích cực trong nhận định, đánh giá đúng tình hình ở những thời điểm lịch sử có tính bước ngoặt cho cuộc kháng chiến. Mặc dù Hoa Kỳ chấp nhận những điều khoản tại Hội nghị Paris, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam…, nhưng Đảng với sự nhạy bén chính trị, tinh thần chủ động, đã nhận định: “Mỹ cút nhưng ngụy chưa nhào”, vậy nên, Nghị quyết HNTƯ 21 (7-1973) và Hội nghị Bộ chính trị sau đó đều chỉ rõ: kẻ thù chính, trực tiếp của dân tộc Việt Nam vẫn là đế quốc Mỹ xâm lược; kiên trì sử dụng phương pháp bạo lực là nhất quán; tích cực chuẩn bị, tranh thủ thời cơ để tiến tới giành thắng lợi cuối cùng. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 là đỉnh cao của tinh thần tích cực, chủ động của Đảng với tinh thần “một ngày bằng hai mươi năm”; “thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước” (Võ Nguyên Giáp, 2004, tr.278-280)
Đất nước được thống nhất, non sông thu về một mối, tinh thần tích cực, chủ động của Đảng được tiếp tục phát huy trong công cuộc đổi mới đất nước. Đại hội VI (12-1986) của Đảng - Đại hội của tinh thần đổi mới, mà trước hết là đổi mới tư duy, kiên quyết xóa bỏ những lối mòn cũ để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng trầm trọng về kinh tế - xã hội. Bản lĩnh dám thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, sai lầm, từ đó kiên quyết sữa chữa những sai lầm bằng việc đề ra đường lối đổi mới toàn diện là minh chứng sinh động cho tinh thần dám đổi mới, dám chịu trách nhiệm, luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết.
Nhìn lại 40 năm đổi mới, những thành tựu to lớn mà dân tộc Việt Nam đạt được cả về cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam trên trường quốc tế, là kết quả từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng - nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi mà cốt lõi nhất là tinh thần chủ động, tích cực của Đảng. Chủ động, tích cực trong việc tạo lập và vận hành mô hình kinh tế: từ nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, đến mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN - một mô hình đặc sắc Việt Nam; chủ động, tích cực trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - một nhà nước được xác lập với cơ chế vận hành: bao nhiêu lợi ích đều thuộc về nhân dân, thực sự “của dân, do dân và vì dân”; “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; chủ động, tích cực trong xác lập và vận hành hệ thống chính quyền ba cấp sau cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy, vận hành hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, tinh thần tích cực, chủ động cách mạng của Đảng thể hiện rõ trong những nỗ lực tham gia vào các tiến trình quốc tế, các hợp tác song phương, đa phương… để từng bước định vị vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Việc thích ứng linh hoạt trước những biến động của tình hình quốc tế, đồng thời giữ vững định hướng XHCN là biểu hiện rõ nét của bản lĩnh, trí tuệ và sự chủ động, tích cực trong tư duy lãnh đạo và quản trị quốc gia của Đảng Cộng sản Việt Nam.

3. Bài học kinh nghiệm và kết luận
Tinh thần tích cực, chủ động của Đảng từ HNTƯ 8 (5-1941) qua các thời kỳ cách mạng đã được Đảng đúc kết, trở thành những kinh nghiệm, bài học lịch sử sâu sắc, cần được nhận diện rõ và phát huy hơn nữa, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Một là, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt qua thách thức. Đặt trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng, cạnh tranh chiến lược giữa các quốc gia ngày càng phức tạp; tác động nhiều chiều của khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, tài nguyên dữ liệu lớn… Việt Nam cần phát huy hơn nữa tinh thần độc lập, tự chủ, để không bị động trước những biến động quốc tế về kinh tế, chính trị, công nghệ, phải nhìn rõ thời cơ để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Nghị quyết Đại hội XIV nhấn mạnh quan điểm: “Nhận diện sớm, tận dụng mọi thuận lợi, thời cơ, vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.1, tr.81).
Hai là, luôn đặt lợi ích dân tộc lên trên hết, trước hết. HNTƯ 8 (5-1941) nhờ đánh giá đúng đặc điểm tình hình, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng trước tiên, đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ngày nay, điều đó thể hiện ở việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; chủ động, tích cực trong thực hiện mục tiêu bao trùm bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới: “Bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; giữ gìn, phát huy giá trị truyền thống văn hóa dân tộc, nâng cao vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh chế độ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh kinh tế - tài chính, an ninh mạng - dữ liệu, an ninh lương thực, an ninh nguồn nước...; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, giữ vững và củng cố môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước. Tăng cường tiềm lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia… Thực hiện có hiệu quả hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.1, tr.113-114)
Ba là, sáng tạo, linh hoạt trong đường lối và hành động cách mạng. HNTƯ 8 (5-1941) đã có những quyết sách linh hoạt phù hợp thực tiễn. Bài học đó đến nay vẫn còn nguyên giá trị chỉ dẫn cho Đảng trong nỗ lực đổi mới tư duy, tầm nhìn lãnh đạo, chỉ đạo; phải ứng dụng nhanh, “đẩy mạnh đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.1, tr.81), nâng cao năng lực quản trị quốc gia… Có như vậy, Việt Nam mới bắt nhịp, tiến kịp cùng nhân loại và chủ động, tích cực trong hội nhập sâu rộng cùng quốc tế.
Bốn là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ chủ trương, cách thức xây dựng và vận động quần chúng tạo sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận Việt Minh đã đem đến thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và những thắng lợi vĩ đại sau này. Bài học đó tiếp tục định hướng cho Đảng như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng đã nêu rõ: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.1, tr.82). Bên cạnh sức mạnh trong nước, cần kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để phát triển và bảo vệ đất nước trong kỷ nguyên mới.
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Tinh thần tích cực, chủ động của HNTƯ 8 (5-1941) về “Vấn đề Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2000, T.7, tr.132) có ý nghĩa sâu sắc trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Tiếp nối tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng nêu quan điểm: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; đoàn kết thống nhất; vận hành thông suốt, đồng bộ, hiệu quả tổ chức bộ máy mới của hệ thống chính trị; nâng cao vai trò, năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và năng lực quản lý, quản trị, kiến tạo phát triển của Nhà nước; không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, phẩm chất, năng lực, uy tín” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, T.1, tr. 83) nhằm ngang tầm với sứ mệnh đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.
Với tất cả những ý nghĩa đó, HNTƯ 8 Đảng (5-1941) - 85 năm nhìn lại, những giá trị chỉ dẫn vẫn còn nguyên tính thời sự, trong đó tinh thần tích cực, chủ động là nội dung cốt lõi tiếp tục dẫn lối cho Đảng tự tin, chủ chủ, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc viết tiếp hành trình cách mạng trong kỷ nguyên phát triển mới.
           
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2000). Văn kiện Đảng Toàn tập. Tập 7. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV,  Tập I. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Lịch sử Đảng. (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Tập 1 (1930-1954), Quyển 1 (1930-1945). Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội
Lênin. (2005). Toàn tập. Tập 41. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội        
Lênin. (2006). Toàn tập. Tập 34. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội
Võ Nguyên Giáp. (2004). Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng. Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội.     
PGS, TS PHẠM ĐỨC KIÊN
Phó Viện Trưởng Viện Lịch sử Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử Đảng
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Email: kienqlkh@gmail.com
Lán Khuổi Nậm ở Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, nơi diễn ra Hội nghị Trung ương Đảng cộng sản Đông dương lần thứ VIII (5/1941) quyết định đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và thành lập Mặt trận Việt Minh (Ảnh Tư liệu BTLSQG). 1. Đặt vấn đềĐối với sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng, tinh thần tích cực, chủ động được thể hiện ở sự năng động trong phân tích, dự báo đúng tình hình, nắm bắt đúng thời cơ, kịp thời đề ra chủ trương, đường lối sát đúng với những biến chuyển của thời cuộc, tích cực chuẩn bị mọi điều kiện từ sớm, từ xa, chủ động ứng phó với mọi tình huống... V.I.Lênin đã từng chỉ rõ: Đảng cách mạng nào “Biết tìm thấy, biết dự đoán, biết nhận định đúng con đường cụ thể hay bước ngoặt đ

Tin khác cùng chủ đề

Sức mạnh trường tồn của Đảng là niềm tin của Nhân dân
Những thành tựu lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam 95 năm qua
Mùa xuân khơi dậy khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng
Quan điểm phát triển văn hóa, con người trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”
Bảo đảm tính đảng và tính khoa học của khoa học lịch sử và khoa học chính trị trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch

Gửi bình luận của bạn