Nguyễn Tất Thành sớm tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” tại trường tiểu học Vinh. Người đã quyết định ra đi tìm đường cứu nước (1911). Sau nhiều năm bôn ba khảo nghiệm ở Pháp, châu Phi, Mỹ, Anh, sự kiện đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lênin và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp (1920) đã đánh dấu bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, đưa Người (lúc này mang tên Nguyễn Ái Quốc) trở thành chiến sĩ cộng sản. Người tích cực truyền bá lý luận, sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, rồi thống nhất các tổ chức cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (1930). Bài viết nhấn mạnh vai trò của Nguyễn Ái Quốc tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) với nhiều chủ trương đúng đắn đưa đến thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám (1945). Điểm mới của bài viết là kết nối logic mạch lạc giữa các mốc son: từ Nguyễn Tất Thành đến Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh, qua đó khẳng định ba sáng lập vĩ đại trong vòng 5 năm (Mặt trận, Quân đội, Nhà nước) là thành quả tất yếu của một hành trình nhất quán, bản lĩnh và đầy kiên trung. Kết quả nghiên cứu cho thấy chính sự thay đổi chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) đã làm nên kỳ tích đưa dân tộc Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do.

Hành trình đến độc lập, tự do của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Hành trình đến độc lập, tự do của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề
Hành trình từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến vị lãnh tụ Hồ Chí Minh không chỉ là câu chuyện về một cuộc đời, mà còn là bản hùng ca về quá trình tìm kiếm, lựa chọn và kiến tạo con đường giải phóng dân tộc. Nghiên cứu các mốc son trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh từ năm 1911 đến năm 1945 là việc làm cần thiết để hiểu rõ nguồn gốc tư tưởng, bản lĩnh chính trị và những cống hiến vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường đi sâu vào từng giai đoạn riêng lẻ (thời niên thiếu ở Huế, thời gian hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc...), mà ít có sự liên kết xâu chuỗi làm nổi bật logic nội tại của sự chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước sang chủ nghĩa cộng sản, cũng như quá trình hoàn thiện về tư tưởng chiến lược cách mạng Việt Nam.
Vấn đề đặt ra là cần phân tích một cách hệ thống sự chuyển hóa về nhận thức và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh qua các mốc quan trọng: từ tiếp xúc với các khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, đến thực tiễn bôn ba khảo nghiệm, tiếp thu Luận cương của Lênin, sáng lập Đảng và đỉnh cao là quyết định thay đổi chiến lược tại Hội nghị Trung ương 8 (5-1941) dẫn tới thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học lịch sử và chính trị, bảo đảm tính khách quan, trung thực và hệ thống. Phương pháp lịch sử được sử dụng xuyên suốt để tái hiện tiến trình các sự kiện lịch sử theo đúng dòng thời gian, bảo đảm tính liên tục và chính xác của bức tranh toàn cảnh về cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh. Phương pháp logic kết hợp chặt chẽ với phương pháp lịch sử, nhằm phân tích mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện, làm rõ sự vận động từ tư duy thực tiễn đến lý luận và từ lý luận quay lại chỉ đạo thực tiễn cách mạng. Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng để xử lý các nguồn sử liệu phong phú, bao gồm hồi ký (Trần Dân Tiên, Võ Quang Miệng), Văn kiện Đảng, sách báo xuất bản (Đường Kách mệnh) và các nguồn tư liệu lưu trữ tại Bảo tàng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, nghiên cứu còn sử dụng phương pháp so sánh để đối chiếu các quyết định chiến lược của Nguyễn Ái Quốc với các nghị quyết của Trung ương Đảng qua các thời kỳ (1936 - 1939; 1940 - 1941), qua đó làm nổi bật tính đúng đắn và sáng tạo trong tư duy của Người. Các phương pháp này được vận dụng linh hoạt, bảo đảm tính khoa học và thuyết phục cho những kết luận được đưa ra.
 
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Từ Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn Ái Quốc
Chủ tịch Hồ Chí Minh sinh năm 1890, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, đến tháng 9-1901 đổi thành Nguyễn Tất Thành. Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành theo học lớp dự bị (préparatoire) Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh, cách quê nhà Kim Liên khoảng 14 km. Chính tại trường tiểu học này, Nguyễn Tất Thành lần đầu tiên tiếp xúc với khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái (Liberté, Égalité, Fraternité) của cách mạng Pháp. Điều đó thôi thúc Nguyễn Tất Thành sau này phải tìm đến tận nơi, để tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu ấy.
Ngày 5-6-1911, với tinh thần: “Tôi muốn ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta” (Trần Dân Tiên, 2012, tr. 15), Nguyễn Tất Thành lấy tên là Văn Ba, xin làm thuê trên con tàu Amiral Latouche Tréville (tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin), một tàu lớn vừa chở hàng vừa chở khách của hãng Chargeurs Réunis (Sácgiơ Rêuyni), còn gọi là hãng Năm Sao, từ bến cảng Sài Gòn rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Tới nước Pháp, ngày 15-9-1911, từ Marseille (Mácxây), với suy nghĩ muốn chống Pháp cần hiểu Pháp, cần học tập văn hoá, kỹ nghệ Pháp, Nguyễn Tất Thành viết đơn gửi Tổng thống và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp xin vào học Trường Thuộc địa. Tuy nhiên, đơn của Người đã không được chấp nhận. Trong thư trả lời, đề ngày 21-10-1911, Hiệu trưởng Trường Thuộc địa cho biết trường chỉ nhận những người được Toàn quyền Đông Dương giới thiệu (Bản sao bút tích “Đơn xin học của Nguyễn Tất Thành” trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh).
Sau vài tháng ở lại Pháp, năm 1912, Nguyễn Tất Thành xuống làm thuê cho tàu của hãng Năm Sao đi vòng quanh châu Phi. Anh đã có dịp ghé bến cảng của 14 nước châu Phi là: Angieri, Tuynidi, Ai Cập, Djibouti, Somalia, Kenya, Tanzania, Mozambique, Madagascar,  Reunion, Senegal, Dahomey, Cônggô, Ghinê. Nguyễn Tất Thành tiếp tục theo con tàu tới Trung Mỹ, Nam Mỹ và đến nước Mỹ cuối năm 1912. Tại Mỹ, Nguyễn Tất Thành vừa đi làm thuê kiếm sống vừa tìm hiểu đời sống người dân. Anh dừng lại ở New York rồi tới thành phố Boston, hải cảng và thủ phủ của bang Massachusetts. Chính tại đây, Nguyễn Tất Thành đã đọc và nghiên cứu bản “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của nước Mỹ (Đến năm 1945, nội dung của bản “Tuyên ngôn độc lập” này đã được trích mở đầu cho bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà).
Sau 4 năm vừa làm thuê vừa tranh thủ trau dồi tiếng Anh ở nước Anh (1913-1917), cuối năm 1917, Nguyễn Tất Thành trở lại nước Pháp. Lúc này, cuộc Chiến tranh thế giới I vẫn đang diễn ra ác liệt, đời sống nhân dân Pháp đang gặp nhiều khó khăn. Nguyễn Tất Thành phải chật vật kiếm sống, khi thì sửa ảnh thuê cho một hiệu ảnh, khi thì vẽ thuê cho một xưởng đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa. Tuy nhiên, Anh vẫn hăng say hoạt động trong phong trào công nhân Pháp.
Khoảng đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành xin gia nhập Đảng Xã hội Pháp. Khi có người hỏi tại sao lại gia nhập Đảng này, Anh trả lời: vì đây “là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: Tự do, Bình đẳng, Bác ái” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr. 47).
Ngày 18-6-1919, đại biểu các nước đế quốc thắng trận trong Chiến tranh thế giới I họp Hội nghị ở Versailles (Pháp). Lấy danh nghĩa đại diện Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp, Nguyễn Tất Thành ký tên Nguyễn Ái Quốc dưới Bản yêu sách của nhân dân An Nam gửi tới Hội nghị. Bản yêu sách gồm 8 điểm đề nghị Chính phủ Pháp thừa nhận các quyền tự do, bình đẳng, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.
Bản yêu sách phản ánh nguyện vọng của nhân dân Việt Nam đã không được Chính phủ Pháp và các nước đế quốc tham dự Hội nghị ở Versailles xem xét, nhưng nó đã tạo tiếng vang lớn đến người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài.
Giữa lúc Nguyễn Ái Quốc đang bế tắc về con đường giải phóng dân tộc Việt Nam thì thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) đã mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử nhân loại - thời kì quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, trong đó có các nước thuộc địa và phụ thuộc.
Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo (L’Humanité), cơ quan của Đảng Xã hội Pháp. Bản sơ thảo luận cương có nhiều từ khó hiểu với Nguyễn Ái Quốc, nhưng Người hiểu điều V.I.Lênin nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa; nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản ở các nước tư bản với quần chúng lao động của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới, để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Điều V.I.Lênin viết đã khai sáng cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào. Từ đó, Người hoàn toàn tin theo V.I.Lênin, tin theo Quốc tế III. Tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, cuối tháng 12-1920, Người đã dứt khoát bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế Cộng sản, trở thành người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, đánh dấu bước ngoặt “từ một người yêu nước tiến bộ thành một chiến sĩ xã hội chủ nghĩa”(Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 740).
Sau khi tìm thấy con đường cứu nước và trở thành người cộng sản, trong những năm sống và hoạt động tại Paris (Pháp), Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ mọi diễn đàn, mọi cuộc thảo luận trong chi bộ hay đại hội Đảng để lên án chủ nghĩa thực dân, hướng mọi thảo luận bàn về vấn đề thuộc địa. Tại Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Pháp họp ở Marseille cuối năm 1921, Người phát biểu khẳng định sự ưu việt vượt trội của chủ nghĩa cộng sản: “chỉ có trong chủ nghĩa cộng sản người ta mới thấy tình hữu ái thực sự và quyền bình đẳng, và cũng chỉ có nó chúng ta mới có thể thực hiện sự hòa hợp và hạnh phúc ở chính quốc và ở các thuộc địa” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr. 115).
Nguyễn Ái Quốc sớm thấy sức mạnh của nhân dân thuộc địa khi được những người cộng sản tập hợp và lãnh đạo, tháng 4-1921, Người viết trong bài “Đông Dương” (đăng trên Tạp chí La Revue Communiste, số 14): “Đằng sau sự phục tùng tiêu cực, người Đông Dương giấu một cái gì đang sôi sục, đang gào thét và sẽ bùng nổ một cách ghê gớm khi thời cơ đến... Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hội chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giống của công cuộc giải phóng nữa thôi”(Hồ Chí Minh, 2011a, tr. 40).
Giữa năm 1921, để có thể thúc đẩy phong trào đấu tranh của nhân dân thuộc địa, được sự đồng ý của Đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã cùng một số đại biểu thuộc địa vận động thành lập Hội Liên hiệp thuộc địa. Hội ra tờ báo Người cùng khổ (Le Paria) làm cơ quan ngôn luận, Nguyễn Ái Quốc được phân công làm chủ nhiệm kiêm chủ bút của báo. Từ khi ra đời đến khi phải đình bản, báo phát hành được 38 số. Tuy tồn tại không dài, song báo đã làm tốt vai trò người tập hợp, người cổ động cho phong trào đấu tranh của nhân dân các thuộc địa, góp phần truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào giai cấp công nhân ở các thuộc địa.
Bằng các hoạt động nhiệt tình, đầy hiệu quả ở Paris, giữa năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đã được Đảng Cộng sản Pháp cử sang Liên Xô dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản.
Là người hiểu biết sâu sắc tình hình, đặc điểm các nước phương Đông và Việt Nam, năm 1924, Nguyễn Ái Quốc bày tỏ quan điểm: Tính chất cuộc đấu tranh giai cấp ở phương Đông không diễn ra quyết liệt như ở phương Tây; Người đề cao chủ nghĩa yêu nước và coi đó là động lực lớn của đất nước; đồng thời gợi ý các nước cần thiết phải vận dụng sáng tạo, bổ sung và phát triển học thuyết Mác cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất nước mình.
Hơn một năm sống và làm việc tại Liên Xô (từ giữa năm 1923 đến cuối năm 1924), việc được theo học Trường Đại học Phương Đông và liên tiếp tham gia các đại hội: Quốc tế Nông dân, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Công hội đỏ, Hội nghị của tổ chức Quốc tế Cứu tế đỏ, Quốc tế Cộng sản... đã giúp Nguyễn Ái Quốc nâng cao nhận thức chính trị, trau dồi năng lực tổ chức. Việc được bầu vào Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân, được phát biểu tham luận tại các đại hội, được mời đi diễn thuyết tại các ngày kỷ niệm... chứng tỏ vai trò và uy tín ngày càng cao của Nguyễn Ái Quốc trong Quốc tế Cộng sản. Tuy nhiên những điều đó không làm sao nhãng mục tiêu chính của Người: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, 2016, tr. 86).
3.2. Từ Nguyễn Ái Quốc trở thành Hồ Chí Minh
Sau Chiến tranh thế giới I, có nhiều thanh niên Việt Nam đang có mặt ở Quảng Châu, Trung Quốc. Họ yêu nước, ham hoạt động, nhưng chưa có tổ chức và người hướng dẫn. Nguyễn Ái Quốc đề đạt với Quốc tế Cộng sản để về đây tập hợp, tuyên truyền lực lượng này. Sau nhiều lần đề nghị, cuối năm 1924, Quốc tế Cộng sản đã phân công Nguyễn Ái Quốc về Quảng Châu hoạt động với tư cách cán bộ Ban Phương Đông và Ủy viên Đoàn Chủ tịch Quốc tế nông dân. Nguyễn Ái Quốc đã tranh thủ hai tư cách này để trực tiếp xúc tiến việc chuẩn bị các điều kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã nhanh chóng tiếp xúc với những thanh niên hăng hái nhất trong tổ chức Tâm Tâm xã, hướng dẫn họ hoạt động và dần tiến tới thành lập một tổ chức thích hợp là Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên. Đồng thời với việc ra báo Thanh Niên để tuyên truyền các tư tưởng cách mạng về trong nước, Nguyễn Ái Quốc đặc biệt quan tâm đến việc trang bị kiến thức lý luận chính trị cho các hội viên, nhất là những người trẻ tuổi mới ở trong nước sang. Người đã mở được 3 lớp huấn luyện với 75 học viên. Các bài giảng của Người cho các lớp này về sau được tập hợp in trong cuốn Đường Kách mệnh (1927).
Đường Kách mệnh xác định rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là: độc lập dân tộc và CNXH, khẳng định con đường cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn, đó là dân tộc cách mệnh (quốc gia) và cách mạng XHCN (quốc tế). Đường Kách mệnh nêu lên mô hình nhà nước trong tương lai khi cách mạng thành công. Mặc dù đồng ý với tư tưởng dân chủ tiến bộ mà cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp đã tuyên bố trong “Tuyên ngôn độc lập” năm 1776 của Mỹ và “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền” của Pháp năm 1791, nhưng theo Nguyễn Ái Quốc: “Cách mệnh Pháp cũng như cách mệnh Mỹ, nghĩa là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 296). Cái Người cần là xây dựng một nhà nước thật sự độc lập, nhà nước của đại đa số nhân dân: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr. 292).
Các học viên sau lớp huấn luyện, đại đa số đều trở về nước hoặc sang Thái Lan hoạt động, trở thành các nhân tố tích cực tuyên truyền và tổ chức phong trào cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc lấy danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản đã triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam tại tại khu vực Tống Vương Đài thuộc quận Cửu Long, Hồng Kông (vùng đất Trung Quốc thuộc Anh). Hội nghị đã thông qua các văn kiện như Chánh cương vắn tắt của Đảng, Sách lược vắn tắt của Đảng, Chương trình tóm tắt của Đảng, Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam, Báo cáo tóm tắt hội nghị, Lời kêu gọi Báo cáo gửi Quốc tế Cộng sản,…trong đó Chánh cương vắn tắt của Đảng xác định rõ chủ trương: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 1).
Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu chấm dứt giai đoạn khủng hoảng đường lối cách mạng, mở ra thời kỳ phát triển mới cho dân tộc Việt Nam. “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr. 406).    
Trong giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc một mặt làm tốt những công việc được Quốc tế Cộng sản giao, ghi dấu ấn tích cực với phong trào cộng sản ở Đông Nam Á, mặt khác, vì mang án tử hình do Toà án Vinh tuyên năm 1929, chưa thể trực tiếp về nước chỉ đạo phong trào cách mạng, Người chỉ có thể  từ nước ngoài góp ý cho Trung ương Đảng ở trong nước. Nhưng ngay cả việc góp ý cũng bị hạn chế, bởi thời gian này những sáng tạo của Người về sách lược phân hóa, lôi kéo tầng lớp hữu sản hạng vừa và nhỏ trong Sách lược vắn tắt của Đảng vấp phải sự phê phán của cấp trên ở Matxcơva và một số đồng chí lãnh đạo Đảng khi đó. Trong thời gian đó, Người lại bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông. Nhờ đấu tranh tự bảo vệ, nhờ sự bào chữa của luật sư Losebi cùng các cộng sự và bản chất là Người không vi phạm luật pháp Anh, nên trải qua 9 phiên tòa xét xử, Người được tuyên trắng án và trả tự do ngay tại tòa.
Năm 1934, Nguyễn Ái Quốc trở lại Liên Xô. Người đã phải trải qua bước thẩm vấn của Ủy ban điều tra của Quốc tế Cộng sản để chứng minh sự trong sạch, sự vững vàng của mình trong lao tù. Mặc dù không được chính thức là đại biểu dự Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, song Người đã tích cực tham gia với vai trò đại biểu tư vấn và giúp đỡ các đại biểu Hoàng Văn Nọn, Nguyễn Thị Minh Khai hoàn thành nhiệm vụ.
Trong hoàn cảnh “bị hiểu sai”, không được phân công công tác, Nguyễn Ái Quốc đã miệt mài học tập trong 3 năm tại Trường Quốc tế Lênin và 2 năm làm việc ở Viện các dân tộc và thuộc địa. Đây chính là thời gian Người nghiên cứu chủ nghĩa Mác - Lênin một cách hệ thống và bài bản. Nhờ có phương pháp khoa học và vốn ngoại ngữ cần thiết, Người đã nắm vững các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là cơ sở để Người sau này áp dụng một cách sáng tạo khi vận dụng vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Trước nguy cơ của chủ nghĩa phát xít, Hội nghị những đồng chí chủ chốt của Ban Chấp hành Trung ương và Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng họp ở Thượng Hải (Trung Quốc), tháng 7-1936 xác định cần phải chuyển hướng chỉ đạo chiến lược và thay đổi sách lược. Hội nghị chỉ rõ: “Chiến sách của Đảng là nhận rõ ai là kẻ địch nhân nguy hiểm nhất trong lúc hiện thời nhất định sẽ tập trung ngọn lửa vào đó mà đánh” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 365).
Ngày 6-6-1938, Nguyễn Ái Quốc có thư gửi một đồng chí lãnh đạo của Quốc tế Cộng sản, bày tỏ nguyện vọng thiết tha: “Đồng chí hãy phân tôi đi đâu đó. Hoặc là giữ tôi ở lại đây. Hãy giao cho tôi làm một việc gì mà theo đồng chí là có ích” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr. 117). Nguyện vọng của Nguyễn Ái Quốc được bà Vaxiliêva, Trưởng Phòng Đông Dương của Ban Phương Đông tán thành và đề đạt ý kiến lên Ban Bí thư Quốc tế Cộng sản: “Đồng chí Lin là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, là người có uy tín lớn trong Đảng Cộng sản Đông Dương, nay từ đây về thì Đảng sẽ chăm chú lắng nghe những ý kiến của đồng chí ấy” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 449).
Được Quốc tế Cộng sản đồng ý, tháng 9-1938, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô, qua Trung Quốc và tìm đường về nước. Sau gần 2 năm bắt liên lạc với các cơ sở đảng trong nước, ngày 28-1-1941, Nguyễn Ái Quốc đã về tới bản Pác Bó, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng.
Tháng 5-1941, tại Pác Bó, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập và chủ trì HNTƯ 8. Hội nghị đã dứt khoát xác định: “Cần phải thay đổi chiến lược”, phải xem nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một “nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương”(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr.  518-519). Hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại công điền cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức, thủ tiêu thuế điền. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng, 2018, tr. 518).
Với chủ trương cần phải thay đổi chiến lược, tạm gác nhiệm vụ đấu tranh đòi ruộng đất, Trung ương Đảng đã hoàn toàn thống nhất với tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, tức là cách mạng Việt Nam nhất định phải tiến hành hai nhiệm vụ dân tộc (giải phóng dân tộc) và dân chủ (ruộng đất), nhưng việc thực hiện không nhất loạt ngang nhau, việc tiến hành nhiệm vụ dân chủ phải phụ thuộc vào nhiệm vụ dân tộc.
Để huy động được đông đảo nhân dân tham gia sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, HNTƯ 8 (5-1941) quyết định thành lập Việt Nam Độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh. Nhờ chính sách đúng đắn, hợp lòng dân, cách tuyên truyền, vận động khéo léo, Mặt trận Việt Minh đã phát triển nhanh chóng không chỉ ở Cao Bằng mà lan nhanh ra khắp cả nước, mau chóng trở thành lực lượng có tổ chức mạnh mẽ của Đảng.
Tháng 8-1942, với danh xưng mới là Hồ Chí Minh, Nguyễn Ái Quốc đi Trung Quốc, dự kiến làm việc với Đảng Cộng sản Trung Quốc và đại diện quân Đồng Minh. Nhưng Người đã bị chính quyền Trung Hoa dân Quốc bắt giam trái phép và giữ lại ở Trung Quốc hơn 2 năm, đến tháng 9-1944, Người mới được về nước. Tháng 10-1944, Người viết “Thư gửi đồng bào toàn quốc”, ký tên Hồ Chí Minh. Trong thư, Người dự báo rằng: “Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.  538). Tháng 8-1945, khi thời cơ trong nước và quốc tế thuận lợi, Đảng đã nhanh chóng phát động Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

4. Kết luận
Từ năm 1911 đến năm 1945, hành trình hoạt động cách mạng của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã tạo ra bước ngoặt quyết định đối vận mệnh dân tộc Việt Nam. Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã không đi trên con đường cứu nước không thành công của các bậc tiền bối, mà quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước mới. Hòa mình vào cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản, tiếp thu được ánh sáng của chủ nghĩa Mác- Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, Người đã trở thành người cộng sản Nguyễn Ái Quốc. Từ đây, Người đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức cộng sản và khi lịch sử yêu cầu, bằng uy tín của mình Người đã thống nhất các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, trở thành lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Người tiếp tục cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân trải qua 3 thời kỳ cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và 1939-1945. Nhờ quá trình liên tục củng cố cơ sở đảng và xây dựng lực lượng quần chúng, tháng 8-1945, khi thời cơ tới, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân Tổng khởi nghĩa giành chính quyền, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân. Với sự ra đời của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sứ mệnh tìm đường cứu nước và lập nước của Người đã thành công, Người trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ đây, dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do.
 
Tài liệu tham khảo
Hồ Chí Minh. (2011a). Toàn tập: Tập 1 (1912-1924). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011b). Toàn tập: Tập 2 (1924-1929). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011c). Toàn tập: Tập 3 (1930-1945). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Hồ Chí Minh. (2011d). Toàn tập: Tập 12 (1959-1960). Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng. (2016). Hồ Chí Minh Biên niên tiểu sử Tập 1 (1890-1929). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng. (2018). Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam Tập I (1930-1954): Quyển 1 (1930-1945). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Trần Dân Tiên. (2012). Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch. Nxb Thanh niên.

TS CHU ĐỨC TÍNH

1. Đặt vấn đềHành trình từ người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đến vị lãnh tụ Hồ Chí Minh không chỉ là câu chuyện về một cuộc đời, mà còn là bản hùng ca về quá trình tìm kiếm, lựa chọn và kiến tạo con đường giải phóng dân tộc. Nghiên cứu các mốc son trong cuộc đời hoạt động của Hồ Chí Minh từ năm 1911 đến năm 1945 là việc làm cần thiết để hiểu rõ nguồn gốc tư tưởng, bản lĩnh chính trị và những cống hiến vĩ đại của Người đối với cách mạng Việt Nam. Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đến thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường đi sâu vào từng giai đoạn riêng lẻ (thời ni&ecirc

Tin khác cùng chủ đề

Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (16/7/1930 - 16/7/2026): Sức sống mới trên quê hương cách mạng
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc
Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 - 1975)

Gửi bình luận của bạn