Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong giáo dục đại học, việc khai thác và phát huy giá trị nguồn tư liệu số về lịch sử địa phương ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên1. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và phân tích thực trạng sử dụng nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng, bài viết đánh giá những kết quả đạt được cũng như những hạn chế còn tồn tại trong quá trình triển khai, thực hiện. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù việc ứng dụng nguồn tư liệu số lịch sử địa phương đã góp phần nâng cao tính hấp dẫn, trực quan và hiệu quả giáo dục, song việc khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên này vẫn chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp, nhằm phát huy hiệu quả nguồn tư liệu số lịch sử địa phương, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số.

Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng tất yếu, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đại học. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức quản lý mà còn tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của người học trong môi trường số là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Trong quá trình đó, khai thác và sử dụng nguồn tư liệu số về lịch sử địa phương được xem là một hướng tiếp cận có nhiều tiềm năng. Lịch sử địa phương phản ánh sinh động quá trình hình thành và phát triển của mỗi vùng, đất; đồng thời, chứa đựng những giá trị truyền thống, tinh thần yêu nước, ý thức cộng đồng và bản sắc văn hóa dân tộc. Khi được số hóa và tích hợp vào các nền tảng học tập số, những tư liệu này không chỉ làm phong phú nguồn học liệu mà còn góp phần nâng cao tính trực quan, tính trải nghiệm và sức thuyết phục trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc khai thác và sử dụng nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng tại các cơ sở giáo dục đại học vẫn còn nhiều hạn chế; nguồn tư liệu chưa được số hóa đồng bộ, việc tích hợp vào công tác giảng dạy chưa thường xuyên và hiệu quả khai thác chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Vì vậy, bài viết đề xuất một số giải pháp, nhằm phát huy hiệu quả nguồn lực này trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên là vấn đề có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

2. Vai trò của nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên

Thứ nhất, tư liệu số lịch sử địa phương.

Tư liệu lịch sử địa phương phản ánh các mặt khác nhau trong đời sống quá khứ ở các khu vực, vùng, miền. Trong cuốn “Lịch sử địa phương” do nhóm tác giả Trương Hữu Quýnh (1989)2 cho rằng, nguồn sử liệu địa phương, gồm: sử liệu hiện vật hay sử liệu vật chất, sử liệu thành văn hay sử liệu viết, sử liệu dân tộc học, sử liệu ngôn ngữ học, sử liệu truyền miệng. Theo tác giả Nguyễn Cảnh Minh (2007)3 trong giáo trình “Lịch sử địa phương”, nguồn tư liệu lịch sử địa phương được dùng trong dạy học lịch sử, bao gồm các tài liệu như tư liệu thành văn, hiện vật, truyền miệng, dân tộc học và ngôn ngữ để phục vụ việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử địa phương.

Nguồn tư liệu số lịch sử địa phương là các tài nguyên kỹ thuật số chứa đựng thông tin về lịch sử, văn hóa của một địa phương cụ thể được tạo lập hoặc số hóa từ các dấu tích quá khứ nhằm phục vụ bảo tồn, nghiên cứu và giảng dạy.

Thứ hai, nội dung giáo dục lịch sử địa phương.

Giáo dục lịch sử địa phương là nội dung quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên, góp phần hình thành thế giới quan khoa học, nhân sinh quan đúng đắn và bản lĩnh chính trị vững vàng cho thế hệ trẻ. Vai trò này được thể hiện trên một số phương diện chủ yếu sau:

(1) Cung cấp tri thức và bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước.

Thông qua việc tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của địa phương, các sự kiện lịch sử, nhân vật tiêu biểu, di tích và di sản văn hóa, sinh viên được tiếp cận những tri thức cụ thể, sinh động về truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng và các giá trị văn hóa đặc sắc của quê hương. Trên cơ sở đó, giáo dục lịch sử địa phương góp phần bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân và khát vọng cống hiến cho đất nước. Đặc biệt, lịch sử địa phương có tính gần gũi và trực quan, giúp các giá trị giáo dục dễ dàng tác động đến nhận thức, tình cảm và hành vi của người học.

(2) Củng cố niềm tin chính trị và giáo dục trách nhiệm xã hội.

Giáo dục lịch sử địa phương góp phần củng cố niềm tin của sinh viên vào vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và con đường phát triển của đất nước thông qua những minh chứng cụ thể từ thực tiễn địa phương. Những tấm gương hy sinh, cống hiến của các thế hệ đi trước cùng những thành tựu đạt được trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội là những minh chứng sinh động về giá trị của độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời, góp phần giáo dục đạo đức, lối sống, ý thức chấp hành pháp luật và tinh thần trách nhiệm xã hội cho sinh viên trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.

(3) Góp phần đổi mới phương pháp giáo dục và phát triển năng lực người học.

Giáo dục lịch sử địa phương tạo điều kiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên thông qua các hoạt động trải nghiệm, như: tham quan di tích lịch sử, nghiên cứu tư liệu số, thực hiện dự án học tập, thảo luận nhóm hoặc khảo sát thực tế. Thông qua các hoạt động này, sinh viên không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn được rèn luyện năng lực tư duy phản biện, kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng làm việc nhóm và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng trong các cơ sở giáo dục đại học.

Thứ ba, vai trò của tư liệu số về lịch sử địa phương.

Tư liệu số về lịch sử địa phương giữ vai trò quan trọng trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục cả về nhận thức, tình cảm và kỹ năng trong bối cảnh chuyển đổi số.

Về nhận thức, các nguồn tư liệu số về lịch sử địa phương, như: hình ảnh, video, bản đồ số, mô hình 3D, tham quan thực tế ảo (VR), tour ảo 360độ và các cơ sở dữ liệu số giúp sinh viên tiếp cận thông tin lịch sử một cách trực quan, sinh động và đa chiều. Thông qua đó, sinh viên có điều kiện tìm hiểu sâu sắc hơn về quá trình hình thành, phát triển của địa phương, các sự kiện lịch sử, nhân vật tiêu biểu, di tích cách mạng và những thành tựu trong quá trình xây dựng, bảo vệ quê hương đất nước. Qua đó, người học không chỉ củng cố kiến thức về lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực tiễn địa phương mà còn nâng cao khả năng liên hệ, đối chiếu giữa lịch sử địa phương với lịch sử dân tộc. Điều này, góp phần hình thành nền tảng nhận thức chính trị vững chắc, khắc phục tình trạng tiếp thu kiến thức một chiều, giáo điều và tăng cường tính thực tiễn trong giáo dục chính trị, tư tưởng.

Về giá trị, tư liệu số về lịch sử địa phương góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng. Thông qua các hình thức thể hiện trực quan, sinh động, như: hình ảnh, video, tư liệu đa phương tiện và các câu chuyện lịch sử được số hóa, sinh viên có điều kiện tiếp cận sâu sắc hơn với những giá trị truyền thống, tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng và những đóng góp của các thế hệ đi trước đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, người học hình thành thái độ trân trọng các giá trị lịch sử, văn hóa dân tộc, củng cố niềm tin vào vai trò lãnh đạo của Đảng và nâng cao ý thức trách nhiệm công dân. Đặc biệt, việc tiếp cận các nguồn tư liệu chính thống trên môi trường số còn góp phần nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị và khả năng nhận diện, đấu tranh với các thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử trên không gian mạng.

Về kỹ năng, việc khai thác tư liệu số lịch sử địa phương tạo điều kiện để sinh viên phát triển các năng lực và kỹ năng cần thiết trong môi trường số. Thông qua quá trình tìm kiếm, lựa chọn, xử lý và đánh giá thông tin từ các nguồn tư liệu khác nhau, sinh viên được rèn luyện tư duy phản biện, năng lực nghiên cứu và khả năng tiếp cận lịch sử một cách khoa học. Bên cạnh đó, các hoạt động học tập dựa trên nền tảng số còn góp phần nâng cao kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, thuyết trình và sáng tạo nội dung số. Qua đó, sinh viên biết vận dụng các nguồn tư liệu số vào học tập, nghiên cứu và giải quyết những vấn đề thực tiễn, từ đó, hình thành năng lực tự học, thích ứng và học tập suốt đời trong bối cảnh chuyển đổi số.

3. Yêu cầu đối với việc khai thác tư liệu số lịch sử địa phương

Chuyển đổi số trong giáo dục không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy mà còn là quá trình đổi mới toàn diện hoạt động dạy và học dựa trên dữ liệu, nền tảng số và tư duy số. Trong lĩnh vực giảng dạy lịch sử, đặc biệt là lịch sử địa phương, chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội trong việc bảo tồn, khai thác và lan tỏa giá trị của các nguồn tư liệu. Các tư liệu lịch sử địa phương, như: văn bản lưu trữ, hiện vật, hình ảnh, hồi ký nhân chứng… khi được số hóa sẽ trở thành nguồn học liệu có khả năng truy cập, chia sẻ và tích hợp thuận lợi vào các môi trường học tập số. Điều này góp phần khắc phục những hạn chế về không gian, thời gian và khả năng tiếp cận của phương thức dạy học truyền thống; đồng thời, thúc đẩy sự hình thành các mô hình học tập mới như học trực tuyến, học tập kết hợp và lớp học đảo ngược, từ đó, nâng cao tính chủ động và năng lực tự học của người học.

Tuy nhiên, quá trình khai thác tư liệu số lịch sử địa phương trong bối cảnh chuyển đổi số cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới. Trước hết, các nguồn tư liệu cần được số hóa, chuẩn hóa và kiểm chứng nhằm bảo đảm tính chính xác, tính khoa học và khả năng tích hợp trên các nền tảng số. Bên cạnh đó, giảng viên cần có năng lực khai thác, xử lý và thiết kế học liệu số phù hợp với mục tiêu giáo dục; biết vận dụng hiệu quả các công cụ và nền tảng công nghệ trong tổ chức dạy học. Đồng thời, việc sử dụng tư liệu số phải bảo đảm tính sư phạm, tính chọn lọc và sự phù hợp với nội dung bài học, tránh tình trạng khai thác dàn trải hoặc lạm dụng công nghệ.

Ngoài ra, các yêu cầu về bản quyền, bảo mật dữ liệu và đạo đức số cần được quan tâm trong quá trình sử dụng và chia sẻ học liệu. Đặc biệt, chuyển đổi số đòi hỏi việc xây dựng hệ sinh thái học liệu số lịch sử địa phương có tính liên thông, thường xuyên cập nhật và khả năng chia sẻ rộng rãi. Điều này cần sự phối hợp giữa các cơ quan lưu trữ, bảo tàng, thư viện và cơ sở giáo dục trong công tác số hóa, quản lý và khai thác dữ liệu. Như vậy, chuyển đổi số không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận và phát huy giá trị của tư liệu lịch sử địa phương mà còn đặt ra những yêu cầu mới về hạ tầng, nguồn nhân lực và phương thức khai thác nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

4. Thực trạng phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên hiện nay

Thứ nhất, hệ thống tài nguyên số về lịch sử địa phương ngày càng được mở rộng và đa dạng hóa.

Chuyển đổi số đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong việc khai thác và sử dụng tư liệu lịch sử địa phương phục vụ giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên. Trong những năm gần đây cùng với quá trình chuyển đổi số quốc gia, nhiều địa phương, cơ sở giáo dục, khu di tích, bảo tàng và trung tâm lưu trữ đã đẩy mạnh số hóa tư liệu lịch sử, văn hóa, từng bước hình thành các kho dữ liệu số phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập của sinh viên.

Tại Thủ đô Hà Nội đang tích cực số hóa kho tàng di sản lớn với gần 10.000 di sản để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa Thăng Long. Quá trình này tạo nền tảng cho việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu văn hóa dùng chung, kết nối di sản với hệ thống dữ liệu quốc gia4. Theo đó, Văn Miếu – Quốc Tử Giám số hóa 40 hạng mục di tích, cho phép du khách quét Mã QR để tra cứu thông tin chi tiết và sử dụng thiết bị thuyết minh tự động Audio Guide5; Hoàng Thành Thăng Long trải nghiệm không gian cung điện thời Lý thông qua công nghệ VR360 và thưởng thức kỹ thuật trình chiếu 3D Mapping tái hiện lịch sử Kinh đô6.

Tại tỉnh Quảng Trị, khu Địa đạo Vịnh Mốc đã xây dựng bộ cơ sở dữ liệu GIS kết hợp quét Laser 3D nhằm tái dựng chính xác toàn bộ hệ thống hầm ngầm, hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo tồn7. Đồng thời, Thành cổ Quảng Trị đã tích hợp dữ liệu lịch sử với hệ thống GIS và bản đồ số cho phép người dùng tương tác trực tiếp, khám phá không gian và hiện vật qua các mô hình 3D.

Tại tỉnh Nghệ An, khu di tích Kim Liên đã tích hợp Mã QR và trợ lý ảo trí tuệ nhân tạo (AI), kết hợp thực tế ảo toàn cảnh các gian nhà tranh và hiện vật bằng hình ảnh 3D – 360 độ8.

Tại thành phố Hải Phòng nhiều di tích lịch sử đã được gắn mã QR và tích hợp trên nền tảng số, góp phần hình thành kho dữ liệu số về lịch sử, văn hóa và các nhân vật tiêu biểu của địa phương, như quần thể danh thắng Cát Bà và vịnh Lan Hạ, khu dic tích Bạc Đằng Giang, Tháp Tường Long…

Bên cạnh đó, các cơ sở giáo dục đại học cũng từng bước tham gia xây dựng và khai thác các nguồn học liệu số phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. Tại Bảo tàng Lịch sử – Văn hóa thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh đã tiến hành sưu tầm 4.410 hiện vật của các địa phương, lập thành 136 hồ sơ khoa học, số hóa và quản lý hiện vật, tư liệu về lịch sử, văn hóa các vùng miền và địa phương trong chương trình “Quản lý hiện vật” của Cục Di sản văn hóa9.

Ngoài ra, các loại hình tư liệu số như địa chí điện tử, phim tư liệu, bản đồ số, mô hình 3D và các ứng dụng thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR) ngày càng được khai thác rộng rãi. Thông qua các nền tảng số và tour tham quan ảo, sinh viên có thể tiếp cận nhiều di tích lịch sử trong và ngoài địa phương mà không bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Điều này góp phần nâng cao tính trực quan, khả năng tương tác và hiệu quả tiếp nhận kiến thức lịch sử.

Thứ hai, phương thức truyền tải nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng có nhiều đổi mới.

Việc ứng dụng các nền tảng số như hệ thống quản lý học tập (LMS), mạng xã hội và các công cụ hỗ trợ tương tác đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tích hợp tư liệu số lịch sử địa phương vào hoạt động giảng dạy. Nhiều cơ sở giáo dục tổ chức các cuộc thi trực tuyến, diễn đàn trao đổi, hoạt động trải nghiệm số gắn với lịch sử và văn hóa địa phương, thu hút sự tham gia của đông đảo sinh viên. Từ đó, tăng cường tương tác, phát huy tính chủ động của người học và phù hợp hơn với môi trường giáo dục số hiện nay.

Thứ ba, tăng cường sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn địa phương.

Tư liệu số về lịch sử địa phương góp phần làm rõ và minh chứng sinh động cho các nội dung giáo dục chính trị, tư tưởng thông qua những sự kiện, nhân vật và thành tựu cụ thể của từng địa phương. Chẳng hạn, khi giảng dạy về tư tưởng Hồ Chí Minh đối với tinh thần tự lực, tự cường và sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giảng viên có thể khai thác các hình ảnh, video, mô hình 3D và tư liệu số về địa đạo Củ Chi, địa đạo Vịnh Mốc hay các sáng kiến quân sự của quân và dân địa phương trong kháng chiến.

Bên cạnh đó, các tư liệu số về lịch sử địa phương còn góp phần giúp sinh viên được tiếp cận cụ thể hơn về quá trình vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn địa phương qua các thời kỳ lịch sử. Thông qua các số liệu, hình ảnh, infographic và video được số hóa, người học có thể trực quan hóa những thay đổi của địa phương trên nhiều lĩnh vực, từ đó, nâng cao khả năng liên hệ giữa lý luận và thực tiễn, củng cố niềm tin vào đường lối phát triển của đất nước cũng như ý thức trách nhiệm đối với sự phát triển của quê hương, đất nước.

Thứ tư, nâng cao khả năng tiếp cận lịch sử địa phương và sự tham gia của sinh viên vào quá trình học tập.

Việc số hóa các nguồn tư liệu lịch sử địa phương đã mở rộng cơ hội tiếp cận tri thức cho sinh viên, khắc phục những hạn chế về không gian, thời gian và điều kiện khai thác tư liệu truyền thống. Thông qua các nền tảng số, kho học liệu trực tuyến, bảo tàng số và các hình thức tham quan ảo, sinh viên có thể chủ động tìm kiếm, nghiên cứu và trải nghiệm các giá trị lịch sử, văn hóa của địa phương. Điều này không chỉ làm tăng hứng thú học tập mà còn góp phần phát huy tính tích cực, chủ động và năng lực tự học của người học trong môi trường giáo dục số.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc khai thác và sử dụng tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên vẫn còn một số hạn chế.

(1) Nguồn tư liệu số lịch sử địa phương chưa thực sự đồng bộ và hệ thống, nhiều tư liệu vẫn tồn tại dưới dạng truyền thống hoặc được lưu trữ phân tán tại các cơ quan, đơn vị khác nhau, gây khó khăn cho việc tiếp cận và khai thác. Công tác số hóa ở một số địa phương còn chậm, dữ liệu chưa được chuẩn hóa, thiếu tính liên thông và khả năng chia sẻ giữa các cơ sở lưu trữ, bảo tàng và cơ sở giáo dục.

(2) Hạ tầng công nghệ và năng lực số chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu chuyển đổi số. Bên cạnh đó, một bộ phận giảng viên chưa khai thác hiệu quả các nguồn học liệu số trong tổ chức hoạt động dạy học; kỹ năng tìm kiếm, đánh giá và xử lý thông tin còn hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng tư liệu số.

(3) Nguy cơ tiếp cận thông tin sai lệch, xuyên tạc lịch sử trên không gian mạng vẫn đặt ra yêu cầu tăng cường định hướng và giáo dục nhận thức cho sinh viên; đồng thời, kỹ năng khai thác, đánh giá và kiểm chứng thông tin của một bộ phận sinh viên còn hạn chế. Các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để lan truyền thông tin sai trái, bóp méo sự thật lịch sử. Vì vậy, cần nâng cao năng lực nhận diện, sàng lọc thông tin và tăng cường sử dụng các nguồn tư liệu số chính thống trong giáo dục chính trị, tư tưởng.

5. Một số giải pháp

Một là, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số lịch sử địa phương theo hướng khoa học, đồng bộ và chính thống.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu số lịch sử địa phương là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số. Các nguồn tư liệu cần được sưu tầm, số hóa, phân loại và chuẩn hóa theo những tiêu chí thống nhất về thời gian, sự kiện, nhân vật, địa danh và chủ đề lịch sử. Đồng thời, dữ liệu phải được kiểm chứng chặt chẽ, bảo đảm tính chính xác, khách quan và phù hợp với quan điểm lịch sử chính thống, góp phần hạn chế sự tác động của các thông tin sai lệch trên không gian mạng.

Cần xây dựng cơ sở dữ liệu trên nền tảng công nghệ hiện đại, có khả năng tích hợp đa phương tiện, như: văn bản, hình ảnh, âm thanh, video, bản đồ số và mô hình 3D. Hệ thống cần được thiết kế theo hướng thân thiện, dễ sử dụng, có khả năng tìm kiếm, liên kết và cập nhật dữ liệu thường xuyên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho giảng viên và sinh viên trong quá trình khai thác, học tập và nghiên cứu. Đồng thời, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan lưu trữ, bảo tàng, thư viện và cơ sở giáo dục để xây dựng hệ sinh thái dữ liệu số lịch sử địa phương có tính liên thông và khả năng chia sẻ rộng rãi.

Hai là, nâng cao năng lực số nhằm khai thác hiệu quả tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên.

Nâng cao năng lực số cho các chủ thể tham gia quá trình giáo dục là điều kiện quan trọng để phát huy hiệu quả của tư liệu số lịch sử địa phương. Vì vậy, các cơ sở giáo dục cần tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tìm kiếm, xử lý, đánh giá và khai thác dữ liệu số; đồng thời, nâng cao năng lực thiết kế, sử dụng học liệu số và các nền tảng công nghệ trong dạy học. Bên cạnh đó, cần chú trọng phát triển kỹ năng số, kỹ năng thẩm định thông tin và năng lực khai thác nguồn tư liệu lịch sử trên môi trường mạng cho người học.

Đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của sinh viên, các mô hình học tập dự án, học tập khám phá, học tập trải nghiệm trên môi trường số cần được triển khai rộng rãi để người học tìm hiểu, phân tích và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Đồng thời, khuyến khích xây dựng các chủ đề học tập gắn với lịch sử địa phương, tổ chức diễn đàn học thuật, hội thảo trực tuyến, các cuộc thi sáng tạo nội dung số và các dự án số về lịch sử địa phương như video, podcast, bản đồ số, website hoặc kho tư liệu số theo chủ đề. Những hoạt động này không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng mà còn làm phong phú thêm nguồn tư liệu số lịch sử địa phương phục vụ học tập và nghiên cứu.

Ba là, đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ và thu hẹp khoảng cách số giữa các cơ sở giáo dục.

Hạ tầng công nghệ là điều kiện nền tảng để khai thác hiệu quả nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư đồng bộ hệ thống mạng internet tốc độ cao, thiết bị dạy học thông minh, phòng học đa phương tiện, nền tảng quản lý học tập trực tuyến và các hệ thống lưu trữ, chia sẻ dữ liệu số. Tăng cường hỗ trợ các cơ sở giáo dục còn gặp khó khăn về điều kiện công nghệ nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách số, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng đối với các nguồn học liệu số. Đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) trong xây dựng, quản lý và khai thác tư liệu lịch sử địa phương. Việc phát triển các bảo tàng số, triển lãm trực tuyến, bản đồ số và không gian trải nghiệm lịch sử trên nền tảng số sẽ tạo điều kiện để sinh viên tiếp cận tri thức lịch sử một cách trực quan, sinh động và thuận tiện hơn.

Ngoài ra, cần tăng cường liên kết, chia sẻ hạ tầng và dữ liệu giữa các cơ sở giáo dục, cơ quan lưu trữ, bảo tàng và thư viện nhằm hình thành môi trường học tập số thống nhất, hỗ trợ hiệu quả cho hoạt động giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Đây không chỉ là giải pháp khắc phục những hạn chế về điều kiện công nghệ mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.

Bốn là, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị trong xây dựng và khai thác nguồn tư liệu số lịch sử địa phương.

Việc phát huy hiệu quả nguồn tư liệu số lịch sử địa phương đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan lưu trữ, bảo tàng, thư viện, cơ quan quản lý văn hóa, các tổ chức nghiên cứu và cơ sở giáo dục. Các bên cần đẩy mạnh chia sẻ dữ liệu, liên thông hệ thống thông tin và phối hợp xây dựng các kho học liệu số dùng chung nhằm nâng cao khả năng tiếp cận và khai thác nguồn tư liệu phục vụ giảng dạy, học tập và nghiên cứu. Bên cạnh đó, cần khuyến khích sự tham gia của các chuyên gia, nhà nghiên cứu, tổ chức xã hội và cộng đồng địa phương trong việc sưu tầm, số hóa và bổ sung nguồn tư liệu lịch sử. Việc hình thành hệ sinh thái học liệu số lịch sử địa phương có tính mở, liên thông và thường xuyên cập nhật sẽ góp phần phát huy giá trị các nguồn tư liệu lịch sử; đồng thời, nâng cao hiệu quả giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên trong bối cảnh chuyển đổi số.

5. Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, việc khai thác và phát huy giá trị của nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn. Nguồn tư liệu này không chỉ góp phần đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo hướng hiện đại, tăng tính trực quan và khả năng tương tác của người học. Từ đó, bồi dưỡng lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức trách nhiệm công dân và niềm tin vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, để phát huy hiệu quả nguồn tư liệu số lịch sử địa phương, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lý, đơn vị lưu trữ và các tổ chức liên quan trong việc xây dựng cơ sở dữ liệu số, nâng cao năng lực số, hoàn thiện hạ tầng công nghệ và phát triển hệ sinh thái học liệu số. Đây là cơ sở quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên số.

 

Chú thích:
1. Bài viết là sản phẩm của đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở có mã số T2026-07-21 do Trường Đại học Cộng nghệ Thông tin và truyền thông – Đại học Thái Nguyên tài trợ.
2. Trương Hữu Quýnh, Phan Ngọc Liên, Nguyễn Phan Quang, Nguyễn. Văn Am (1989). Lịch sử địa phương. H. NXB Giáo dục, tr. 23 – 29.
3. Nguyễn Cảnh Minh (2007). Lịch sử địa phương. Trung tâm Đào tạo từ xa, Đại học Huế, tr. 19 – 20.
4. Hà Nội đẩy mạnh số hóa di sản, phát huy giá trị kho tàng văn hóa của Thủ đô. https://thanglong.chinhphu.vn/so-hoa-dua-di-san-ha-noi-tro-thanh-nguon-luc-kinh-te-10326040715421153.htm
5. “Hồi sinh” di sản bằng công nghệ số. https://hanoimoi.vn/hoi-sinh-di-san-bang-cong-nghe-so-657915.html
6. Khoa học công nghệ bảo tồn di sản – nhìn từ Nghị quyết 57.https://doanhnghiepvn.vn/cong-nghe/khoa-hoc-cong-nghe-bao-ton-di-san-nhin-tu-nghi-quyet-57/20251123045108867
7. Ứng dụng công nghệ quét laser 3D và công nghệ GIS trong thu thập và xây dựng cơ sở dữ liệu địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh. https://tapchicuaviet.vn/chuyen-dong-so/ung-dung-cong-nghe-quet-laser-3d-va-cong-nghe-gis-trong-thu-thap-va-xay-dung-co-so-du-lieu-dia-dao-vinh-moc-va-he-thong-lang-ham-vinh-linh-14368.html.
8. Khu di tích Kim Liên đổi mới trải nghiệm bằng công nghệ số. https://baoquocte.vn/khu-di-tich-kim-lien-doi-moi-trai-nghiem-bang-cong-nghe-so-394777.html
9. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Giới thiệu về bảo tàng lịch sử. https://hcmussh.edu.vn/news/item/3731
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2023 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
3. Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu năm 2024.
4. Quốc hội (2025). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025.
5. Năng lực số của giảng viên và sinh viên Trường Cao đẳng Sư phạm Kiên Giang: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo. https://doi:10.59266/houjs.2025.832
6. Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giáo dục chính trị, tư tưởng cho sinh viên. https://www.quanlynhanuoc.vn/2025/12/17/giai-phap-nang-cao-chat-luong-hoat-dong-giao-duc-chinh-tri-tu-tuong-cho-sinh-vien/
7. Tác động của chuyển đổi số đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. https://www.quanlynhanuoc.vn/2024/12/26/tac-dong-cua-chuyen-doi-so-doi-voi-giao-duc-dai-hoc-o-viet-nam-hien-nay/
8. Số hóa để di sản hồi sinh và khơi dòng lịch sử (3): Đường dài còn lắm gian nan. https://sovhtt.hanoi.gov.vn/so-hoa-de-di-san-hoi-sinh-va-khoi-dong-lich-su-3-duong-dai-con-lam-gian-nan
9. Việt Nam vào top 5 quốc gia có tỷ lệ cao giáo viên sử dụng AI trong dạy học. https://cand.com.vn/giao-duc/viet-nam-vao-top-5-quoc-gia-co-ty-le-cao-giao-vien-su-dung-ai-trong-day-hoc–i787271

TS. Trịnh Thị Kim Thoa
Trường Đại học Công nghệ Thông tin và Truyền thông, Đại học Thái Nguyên

1. Đặt vấn đề Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, chuyển đổi số đã trở thành xu hướng tất yếu, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục đại học. Việc ứng dụng công nghệ số không chỉ làm thay đổi phương thức quản lý mà còn tạo ra những chuyển biến quan trọng trong nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, đổi mới giáo dục chính trị, tư tưởng theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với đặc điểm của người học trong môi trường số là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trong quá trình đó, khai thác và sử dụng nguồn tư liệu số về lịch sử địa phương được xem là một hướng tiếp cận có nhiều tiềm năng. Lịch sử địa phương phản ánh sinh động qu&aa

Tin khác cùng chủ đề

Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc
Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 - 1975)
Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Vang mãi anh hùng ca thống nhất đất nước

Gửi bình luận của bạn