Trong những năm 1951-1952, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch De Lattre de Tassigny với trọng tâm là các hoạt động càn quét, bình định nhằm giành đất, giành dân, phá hoại các căn cứ và vùng du kích ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, phong trào kháng chiến trên địa bàn đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Trên cơ sở quán triệt đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng, Đảng bộ Liên khu V đã tập trung lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích, nhằm chống phá hiệu quả các cuộc càn quét, bình định của địch. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu V, quân và dân Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã kiên cường bám đất, bám dân, giữ vững và mở rộng nhiều khu du kích, từng bước làm thất bại âm mưu bình định của thực dân Pháp, bảo vệ vùng tự do, tạo thế và lực cho cuộc kháng chiến.

Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)
1. Đặt vấn đề
Năm 1949 Đảng bộ Liên khu V được thành lập, lãnh đạo các địa phương trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, là cầu nối trực tiếp giữa Bắc Trung Bộ với Nam Bộ. Sau thất bại trong nhiều chiến dịch quân sự, từ năm 1951, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch De Lattre de Tassigny, tập trung tăng cường các hoạt động càn quét, bình định, lập hệ thống đồn bốt, tháp canh, củng cố chính quyên thực dân và tay sai, phát triển lực lượng quân đội nhằm từng bước kiểm soát địa bàn, tách lực lượng kháng chiến khỏi quần chúng nhân dân và xóa bỏ các vùng du kích, căn cứ kháng chiến ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Trước tình hình đó, việc giữ vững cơ sở cách mạng, bảo vệ vùng tự do, phát triển lực lượng kháng chiến ở vùng tạm bị chiếm đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát huy sức mạnh của chiến tranh nhân dân và xây dựng thế trận kháng chiến rộng khắp. Quán triệt đường lối kháng chiến của Đảng, Đảng bộ Liên khu V đã kịp thời đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo nhằm phát triển chiến tranh du kích, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, củng cố cơ sở chính trị và mở rộng vùng du kích. Những chủ trương đó không chỉ góp phần làm thất bại nhiều cuộc càn quét, bình định của thực dân Pháp mà còn tạo điều kiện để phong trào kháng chiến ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên vượt qua giai đoạn khó khăn, giữ vững thế chủ động, từng bước phát triển.
Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến phong trào chiến tranh du kích ở Liên khu V trong kháng chiến chống thực dân Pháp, song việc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu V trong tổ chức, chỉ đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống càn quét, bình định của thực dân Pháp giai đoạn 1951-1952 vẫn chưa được làm rõ một cách hệ thống. Vì vậy, nghiên cứu vấn đề này không chỉ góp phần bổ sung tư liệu và nhận thức lịch sử về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Liên khu V mà còn khẳng định sự vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng trong điều kiện cụ thể của chiến trường Liên khu V.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng hai phương pháp chủ yếu là phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Phương pháp lịch sử được vận dụng nhằm tái hiện bối cảnh chiến trường Nam Trung Bộ, quá trình hình thành chủ trương và sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ Liên khu V trong đẩy mạnh chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp giai đoạn 1951-1952 theo tiến trình thời gian cụ thể. Phương pháp logíc được sử dụng để phân tích, khái quát và làm rõ mối quan hệ giữa chủ trương lãnh đạo của Liên khu ủy V với kết quả thực tiễn của phong trào chiến tranh du kích trên chiến trường Nam Trung Bộ, từ đó nêu ra những nhận xét.
Bên cạnh đó, bài viết còn kết hợp sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê và đối chiếu tư liệu nhằm xử lý các nguồn tài liệu lưu trữ, văn kiện của Đảng, lịch sử đảng bộ địa phương, lịch sử lực lượng vũ trang và các công trình nghiên cứu có liên quan. Việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu trên góp phần bảo đảm tính khách quan, khoa học và độ tin cậy của các luận điểm được trình bày trong bài viết.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Chủ trương của Đảng bộ Liên khu V về đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống càn quét, bình định của thực dân Pháp
Trong 2 năm (1951-1952), thực dân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân với quy mô từ 800 đến 1.000 lính càn quét, đánh phá các tỉnh Nam Trung Bộ, chà đi xát lại nhiều lần ở vùng đồng bằng, vùng giáp ranh và vùng rừng núi. Tăng cường các biện pháp, củng cố bộ máy chính quyền tay sai, bắt lính, phát triển quân đội. Ở Phú Yên trong năm 1952, quân Pháp đổ bộ 34 lần, đốt 1.530 căn nhà, phá 730 chiếc thuyền, 65 dàn lưới, cướp 2.000 trâu bò; tỉnh Bình Định, trong 2 năm 1952 và 1953, quân Pháp giết 492 người, bắt giam 1.315 người, đốt 2.911 nhà, phá 914 thuyền, 277 dàn lưới, cướp 1.634 trâu bò, phá 72 cầu cống (Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, 1992, tr.153). Những cuộc đánh phá của thực dân Pháp đã làm cho phong trào chiến tranh du kích gặp nhiều khó khăn. Ở bắc Quảng Nam, cơ sở trong vùng tạm chiếm bị thu hẹp, lực lượng dân quân giảm; khu du kích Điện Bàn bị uy hiếp mạnh, bộ đội ở chiến khu về làng hi sinh nhiều. Số dân bị quân kiểm soát chiếm tỉ lệ cao. Ở Bình Thuận, quân Pháp kiểm soát 100.000 trên tổng số 150.000 dân, Ninh Thuận 110.000 trên tổng số 180.000 dân (Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, 1992, tr.159). Ở vùng Tây Nguyên, thực dân Pháp đẩy mạnh chính sách cưỡng bức tuyển mộ thanh niên các dân tộc thiểu số vào quân đội nhằm thành lập Sư đoàn 4 Cao nguyên với 7 tiểu đoàn sơn chiến, quân số 4.720 người (Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, 1992, tr.160). Bằng nhiều thủ đoạn mới, kết hợp lực lượng cơ động càn quét với các hoạt động chính trị, chiến tranh tâm lý, lừa bịp, dụ dỗ, khủng bố ác liệt, thực dân Pháp đã gây ra nhiều khó khăn, thử thách cho các hoạt động chiến tranh du kích của quân và dân Nam Trung Bộ.
Trước các hoạt động càn quét và bình định gấp rút, nhằm giành đất, giành dân của thực dân Pháp, Đại hội Đảng bộ Liên khu V lần thứ 2 (8-1951) xác định: “Nhiệm vụ quan trọng số một là vấn đề mở rộng và xây dựng cơ sở địch hậu, phá chính sách “bình định”, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch” (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, 1986, tr. 171). Phương châm tác chiến lúc này là: “Lấy du kích chiến là chính, đồng thời học tập vận động chiến trong điều kiện thuận lợi. Tác chiến trong vùng sau lưng địch phải tuyệt đối phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo tồn cơ sở; phải liên hệ chặt chẽ việc bảo vệ hậu phương với mở rộng cơ sở” (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, 1986, tr. 172-173). Quán triệt chủ trương của Đảng bộ Liên khu V, các cấp bộ đảng trên địa bàn tăng cường lãnh đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích, chống các cuộc càn quét và bình định của quân Pháp. Tháng 9-1951, tỉnh Gia Lai tổ chức Hội nghị Ban cán sự lần thứ 3 đề ra chủ trương: “Ra sức động viên mọi khả năng của nhân dân vào việc củng cố và phát triển cơ sở, đẩy mạnh du kích chiến tranh, phá âm mưu củng cố Tây Nguyên của địch” (Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai, 2009, tr. 174). Tỉnh ủy Quảng Nam tổ chức Hội nghị cán bộ, đề ra chủ trương: “Đẩy mạnh du kích chiến tranh, bồi dưỡng lực lượng ta và tiêu hao sinh lực địch” (Tỉnh ủy Quảng Nam - Thành ủy Đà Nẵng, 2006, tr. 302).
Tháng 2-1952, Liên khu ủy V mở Hội nghị công tác vùng sau lưng địch. Hội nghị đánh giá cao những cố gắng của phong trào chiến tranh du kích vùng sau lưng địch, tinh thần chịu đựng gian khổ của cán bộ, lực lượng vũ trang và cơ sở cách mạng trong vùng bị chiếm ở đồng bằng; đồng thời, phân tích những hạn chế trong công tác vùng sau lưng địch như: nhận thức không đúng về nhiệm vụ chuẩn bị chuyển mạnh sang tổng phản công, chủ quan, nôn nóng, thiên về hoạt động bề nổi; chưa nắm vững công tác chính ở vùng địch tạm chiếm là dân vận, ngụy vận, phát triển chiến tranh du kích. Hội nghị yêu cầu: xác định rõ vùng tạm chiếm đóng ở mỗi tỉnh; nhấn mạnh vị trí chiến lược của Tây Nguyên, phấn đấu đưa vùng Đông Đường số 14 thành vùng du kích và căn cứ du kích mạnh, vùng Tây Đường số 14 thành vùng du kích.
Tháng 10-1952, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Đảng bộ Liên khu V khẳng định: “Chiến trường chính là Tây Nguyên. Tiếp tục phát huy phong trào đấu tranh chống phá bình định trên chiến trường Tây Nguyên, lực lượng gây cơ sở, các đội vũ trang tuyên truyền, đại đội độc lập tiếp tục tiến sâu lên phía Tây Đường 14, Đường 21” (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân Việt Nam, 2021, tr. 244-245).
3.2. Quá trình đẩy mạnh chiến tranh du kích chống phá càn quét, bình định của địch
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu V lần thứ 2, tháng 8-1951, Bộ Tư lệnh Liên khu V mở đợt hoạt động Hè ở Bắc Kon Tum, tạo điều kiện khôi phục cơ sở, phát triển chiến tranh du kích nhằm hỗ trợ phong trào gây cơ sở, củng cố vững chắc và mở rộng căn cứ địa Bắc Tây Nguyên, tạo điều kiện khôi phục căn cứ Sơn Hà - Quảng Ngãi.
Bộ đội chủ lực Liên khu V và lực lượng vũ trang địa phương, du kích các tỉnh đã tiến công tiêu diệt các cứ điểm ở Đăk Pớt, Djama (Gia Lai), Ai Nui (Đắk Lắk), Lâm Đồng; đánh quân tiếp viện và phục kích trên Đường số 7, đường xe lửa Đà Lạt - Krông Pha, bức rút một số vị trí ở Cheo Reo, An Khê. Mở rộng và hình thành những mảng lớn, khá hoàn chỉnh ở vùng du kích Bắc Tây Nguyên. Khu tam giác Cheo Reo - Buôn Hồ - M’Đrăk ở Đắk Lắk được mở rộng đến Đường số 14 và nối liên lạc được với vùng du kích Đăk Pớt (Gia Lai) về phía Bắc. Du kích, bộ đội địa phương và nhân dân liên tục phá hoại đường sá, cầu cống, phục kích, chặn đánh các đoàn xe vận tải, tiếp tế, gây cho quân Pháp nhiều tổn thất về người và phương tiện. Ở Lâm Đồng, mặc dù còn nhiều khó khăn, các khu căn cứ Anh Dũng, La Ba được giữ vững, mở rộng các vùng du kích dọc Đường số 20, 11, vùng đồng bào Mạ và vùng đồng bào các dân tộc ở Tây Bắc Đà Lạt.
Việc kết hợp chặt chẽ giữa ba thứ quân (chủ lực Liên khu, bộ đội địa phương huyện, tỉnh và du kích), giữa tác chiến của bộ đội và đấu tranh của nhân dân được đẩy mạnh, tạo thế, tạo lực, đánh quân Pháp liên tục, đều khắp, ngày càng mạnh mẽ. Hàng loạt lô cốt, tháp canh, cứ điểm nhỏ của quân Pháp bị tiêu diệt ở Quảng Nam, Bình Thuận; các đội quân tiếp viện bị tiêu diệt ở Khánh Hòa, Quảng Nam đã góp phần đánh bại chiến thuật “cứ điểm nhỏ” và “đội ứng chiến nhỏ” của thực dân Pháp; chính sách chiêu an, bình định và hệ thống kìm kẹp của quân Pháp lần lượt bị phá vỡ từng mảng, cơ sở kháng chiến được mở rộng. Phong trào chiến tranh du kích từng bước phục hồi, các tầng lớp nhân dân hăng hái gia nhập du kích, bộ đội; nhiều làng, xã vừa mở ra đã thành lập ngay được trung đội du kích. Làng chiến đấu hình thành và đánh trả hiệu quả các cuộc càn quét của quân Pháp. Các khu du kích cũ như Lê Hồng Phong, Tam Giác (Bình Thuận), Bác Ái (Ninh Thuận), Hòn Hèo, Đá Bàn (Khánh Hòa), Cò Nổi, Điện Bàn (Quảng Nam) từng bước được phục hồi và mở rộng. Một số khu du kích mới ở Hàm Thuận, Hòa Vang được hình thành. Du kích ở các địa phương có nhiều cách đánh sáng tạo. Tháng 2 và 3-1951, du kích và dân quân các xã ở Quảng Nam đã đánh 32 trận, diệt 53 lính (Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam, 2015, tr. 47).
Song song với việc phát triển chiến tranh du kích, công tác vận động binh sĩ ngụy, tạo nhân mối trong các đồn bốt của quân Pháp được đẩy mạnh. Cấp ủy đảng các địa phương đã giao nhiệm vụ cho các đoàn thể quần chúng vận động con em đang phục vụ trong các lực lượng vũ trang của địch trở về kháng chiến, với gia đình, góp phần thức tỉnh, giác ngộ hàng ngàn binh lính ngụy bỏ hàng ngũ về với gia đình, nhất là vùng Quảng Nam (chỉ tính trong năm 1951, đã có trên 1.000 lính ngụy bỏ ngũ, giao nộp vũ khí cho cách mạng, trở về với gia đình, địa phương) (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, 1986, tr. 196)
Từ năm 1952, với sự giúp sức của Mỹ, thực dân Pháp tiếp tục đẩy mạnh càn quét, bình định vùng tạm chiếm, đánh mạnh vào vùng tự do. Ở các tỉnh Quảng Nam, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, quân Pháp đã mở gần 100 cuộc càn quét quy mô từ 2 tiểu đoàn trở lên (Bộ Tư lệnh Quân khu 5, 1986, tr. 196), làm cho phong trào chiến tranh du kích trở nên khó khăn: “Đối với vùng tự do địch phá hoại triệt để hơn, chúng đặc biệt chú ý phá các công trình thủy lợi, đường xe lửa và Quốc lộ 1, chúng xây dựng các đội xung kích lấy Cù lao Lý Sơn làm bàn đạp để thường xuyên uy hiếp vùng tự do ven biển. Hoạt động không quân của địch tăng hơn trước nhiều” (Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, 1992, tr. 153).
Để đối phó với những cuộc đánh phá, bình định gấp rút của thực dân Pháp, Bộ Tư lệnh Liên khu V xây dựng 2 trung đoàn chủ lực cơ động (108 và 803) và 3 trung đoàn chủ lực phụ trách địa phương (Trung đoàn 120 phụ trách Bắc Tây Nguyên; Trung đoàn 84 ở Đắk Lắk; Trung đoàn 812 ở cực Nam Trung Bộ). Lực lượng vũ trang các địa phương được kiện toàn, trong đó chỉ riêng 3 tỉnh Tây Nguyên, 4 tỉnh tạm chiếm ở đồng bằng đã bổ sung đủ cho 26 đội vũ trang tuyên truyền, 29 đại đội độc lập, 6 tiểu đoàn tập trung và 2 đội cảm tử (Viện Lịch sử quân sự, 2024, tr. 387)
Các địa phương đẩy mạnh xây dựng các làng chiến đấu ở vùng tự do và các vùng căn cứ bàn đạp, tuyến du kích và làng chiến đấu dọc ven biển, kéo dài trên 400km ở vùng tự do trở thành tuyến bố phòng chống địch. Bộ đội địa phương và du kích vùng sau lưng địch ở Quảng Nam, Bình Thuận và một số nơi ở Khánh Hòa, Ninh Thuận dựa vào làng chiến đấu đẩy lùi nhiều cuộc càn quét của thực dân Pháp, chủ động tiến công diệt đồn bốt lẻ, thu vũ khí, giữ vững phong trào địa phương.
Ở Tây Nguyên và miền Tây các tỉnh đồng bằng cũng xây dựng được nhiều xã chiến đấu khá vững chắc. Các xã chiến đấu ở Gia Hội (Gia Lai), xã Hiếu, xã Soáp (Kon Tum), Đất Bằng (Đắk Lắk); các căn cứ Lê Hồng Phong (Bình Thuận), Bác Ái (Ninh Thuận), Đá Bàn (Khánh Hòa) đẩy lùi nhiều cuộc càn quét của thực dân Pháp.
Tháng 7-1952, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu V chỉ đạo mở đợt hoạt động Hè Thu ở Bắc Quảng Nam nhằm mục đích “tranh lại vùng du kích và phá thế uy hiếp của địch; tác chiến tiêu diệt địch, bồi dưỡng lực lượng ta” (Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến, 1992, tr. 162). Các đơn vị và địa phương đã đẩy mạnh hoạt động đánh địch rộng khắp, góp phần tiêu diệt gần 1.200 lính, san phẳng 7 cứ điểm, 5 tháp canh, phá vỡ hệ thống cứ điểm vòng ngoài căn cứ quân sự liên hiệp Đà Nẵng. Vùng du kích bắc Quảng Nam mở rộng đến sát ngoại ô thành phố Đà Nẵng, thị xã Hội An. Quân và dân Nam Trung Bộ diệt các cứ điểm của địch ở Bà Du, Túy La, Thượng Phước, Lệ Sơn (từ ngày 16 đến ngày 18-9-1952), Đồn Nhất - đèo Hải Vân (25-9-1952). Ở Bình Thuận, du kích phối hợp với lực lượng vũ trang tiêu diệt cứ điểm Ngã Hai, diệt gọn một đại đội địch bằng cách đánh đặc công.
Ở Tây Nguyên, cuối năm 1952, phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp; xây dựng được nhiều vùng du kích liên hoàn; dân quân du kích ở nhiều địa phương đã đánh được quân Pháp, ngụy. Tại Kon Tum, làng chiến đấu được củng cố và phát triển, nhất là ở Kon Lung, quân Pháp nhiều lần càn vào làng nhưng đều bị đánh bật ra; ở Đăk Glei đã xây dựng được căn cứ du kích Pung Pang, xã Đoàn, Tân Túc, Đăk Mil, Tung Bung; ở Đăk Tô đã xây dựng xã Đăk Tơbay và các làng Tân Cự, làng Mít, Đăk Nên thành làng, xã chiến đấu (Quân khu 5, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum, 2021, tr. 76-77). Ở Đắk Lắk, cuối năm 1952, cơ sở cách mạng đã phát triển khá rộng ở Buôn Hồ, Lăk và Đăk Mil. Nhân dân một số vùng bị thực dân Pháp kìm kẹp đã tự tìm bắt liên lạc với cán bộ gây cơ sở xin làm nhiệm vụ liên lạc giữa vùng địch với vùng du kích (Bộ Tổng Tham mưu, 1998, tr. 60-61). Tỉnh Lâm Đồng, các đội vũ trang tuyên truyền đã đi sâu xây dựng cơ sở ở thị xã Đà Lạt được 92 cơ sở và 207 gia đình kháng chiến, nhiều nhất là ở Cam Ly, km số 6, 9... Huyện Chiến Đấu xây dựng được cơ sở ở 24 làng, các cơ sở đều giữ vững liên lạc, làm tốt nhiệm vụ dọc Đường số 20 (Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lâm Đồng, 1984, tr. 119). Như vậy, cuộc đấu tranh bền bỉ ở vùng sau lưng địch các tỉnh vùng đồng bằng ven biển, cũng như ở Tây Nguyên đã thu được nhiều kết quả, từng bước đưa Nam Trung Bộ vượt qua thời kỳ khó khăn, góp phần biến hậu phương địch thành tiền phương ta và giành quyền làm chủ với những mức độ khác nhau trong nhiều vùng tương đối rộng lớn.
3.3. Một số nhận xét
Một là, Đảng bộ Liên khu V luôn nhận thức đúng vị trí, vai trò to lớn của chiến tranh du kích chống âm mưu càn quét, bình định của địch. Đây là vấn đề mang tính xuyên suốt của cuộc kháng chiến. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Liên khu V lần thứ 2 (8-1951), nhấn mạnh: “Ra sức phát triển chiến tranh du kích” nhằm đánh bại âm mưu càn quét, bình định của địch, đưa phong trào kháng chiến phát triển. Trên cơ sở đó, các cấp bộ đảng trong toàn Liên khu đã tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh chiến tranh du kích rộng khắp. Vì vậy, mặc dù bị quân Pháp càn quét, đánh phá ác liệt cả vùng tự do và vùng tạm chiếm, làm cho hoạt động chiến tranh du kích gặp nhiều khó khăn; song quân và dân Nam Trung Bộ và Tây Nguyên từng bước củng cố lực lượng và thế trận; đẩy mạnh phát triển chiến tranh du kích rộng khắp, kết hợp mở các chiến dịch ở Quảng Nam - Đà Nẵng; đánh sâu vào lòng địch ở Bình Thuận; tiêu diệt quân Pháp trong công sự vững chắc ở địa hình rừng núi Kon Tum; đánh tan các cuộc hành quân đánh phá giao thông; bảo vệ vững chắc vùng tự do, tạo điều kiện để hoạt động chiến tranh du kích chuyển sang giai đoạn phát triển mới, tiến lên phối hợp với các chiến trường tiến công, tiêu diệt địch rộng khắp.
Hai là, Đảng bộ Liên khu V tích cực chỉ đạo kiên trì “bám đất, bám dân”, xây dựng cơ sở chính trị và vũ trang hình thành lực lượng chiến đấu tại chỗ, làm cơ sở cho hoạt động chiến đấu, chống càn quét và bình định của thực dân Pháp. Trên cơ sở chủ trương của Đảng bộ Liên khu V, các cấp bộ đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang đã nêu cao quyết tâm, vượt qua mọi khó khăn, kiên trì bám đất, bám dân, bắt nối cơ sở cũ, xây dựng cơ sở mới, phát triển dân quân, du kích. Ở các vùng tạm bị chiếm, Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo, chỉ đạo các đội vũ trang tuyên truyền và lực lượng bộ đội chủ lực bám cơ sở, giúp nhân dân chống địch càn quét và bình định. Đặc biệt, để phá kế hoạch “chiêu an” của thực dân Pháp, các địa phương còn thực hiện chủ trương phân tán lực lượng, chia thành các trung đội xuống những thôn, xã trọng điểm, xây dựng làng chiến đấu, phát triển chiến tranh du kích, tích cực chống càn, bảo vệ làng xóm, tiêu diệt sinh lực địch, gây dựng phong trào kháng chiến. Nhiều hình thức, biện pháp nhằm “bám đất, bám dân” đã được thực hiện, góp phần thu hút đông đảo quần chúng tham gia như tổ chức “Hội đánh Tây”, mở “Hội già làng”, “Hội thề chống Pháp”... Nhiều làng chiến đấu liên hoàn được các địa phương tập trung xây dựng và phát triển, tiến tới thành lập các căn cứ du kích, cơ sở kháng chiến, làm tiền để đẩy mạnh chiến tranh du kích chống lại các cuộc hành quân, càn quét của địch.
Ba là, Đảng bộ Liên khu V đã vận dụng kết hợp với công tác binh vận trong chống phá càn quét, bình định. Cùng với chủ trương đẩy mạnh các hoạt động quân sự, mở các đợt hoạt động, chiến dịch tiến công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch chống các cuộc hành quân càn quét, bình định của thực dân Pháp, Đảng bộ Liên khu V còn chú trọng lãnh đạo kết hợp với binh, địch vận: “Công tác binh vận là một nhiệm vụ chiến lược, là công tác vận động tầng lớp quần chúng đặc biệt bị địch áp bức bao gồm người lính cầm súng cho địch và cả gia đình họ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Đắk Nông, 2006, tr. 78). Trên cơ sở đó, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu V xác định nhiệm vụ chính là: “Dân vận, ngụy vận và đẩy mạnh chiến tranh du kích, nhằm đánh bại âm mưu càn quét, bình định của địch, đưa phong trào kháng chiến phát triển” (Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, 2021, tr. 106). Các khẩu hiệu vận động như: không ra mặt trận, không bổ sung đi nơi khác, đòi tăng lương, đòi về làm ruộng và chăm sóc mẹ già… đã diễn ra ở nhiều nơi; binh sĩ địch tại một số đồn bốt đã tự tìm bắt liên lạc về kháng chiến, bỏ hàng ngũ về gia đình, kiên quyết không đi càn quét; nhân mối trong đồn địch ngày càng nhiều, một số trận càn đã có binh lính nguỵ giúp, nên ta tiêu diệt được những tên chỉ huy, chỉ điểm nguy hiểm, hạ một số đồn bốt địch... Các hoạt động binh, địch vận đã trở thành mũi tiến công sắc bén và lợi hại, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị, tạo thành sức mạnh tổng hợp của chiến tranh du kích, đánh bại âm mưu càn quét, bình định của thực dân Pháp.
3. Kết luận
Trong những năm 1951-1952, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ Liên khu V, quân và dân các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên đã đẩy mạnh hoạt động chiến tranh du kích rộng khắp, góp phần ngăn chặn, làm thất bại các cuộc hành quân càn quét và bình định của địch, giữ vững các địa bàn kháng chiến. Trong quá trình đó, các đơn vị bộ đội chủ lực Liên khu cùng bộ đội địa phương đã mở các chiến dịch tiến công địch ở nhiều nơi, làm tan rã các cuộc hành quân của địch, hỗ trợ du kích, dân quân các địa phương đẩy mạnh hoạt động đấu tranh phá kế hoạch bình định của địch, tạo tiền đề cho những thắng lợi chiến lược sau này.

 
Tài liệu tham khảo

 
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai. (2009). Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai (1945-2005). Nxb Chính trị quốc gia
Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lâm Đồng. (1984). Sơ thảo Lịch sử Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng (1945-1954). Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng tỉnh Lâm Đồng xuất bản
Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam. (2015). Tổng kết phong trào du kích chiến tranh du kích trên chiến trường Quảng Nam (1945-1975). Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Quảng Nam xuất bản
Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử quân Việt Nam. (2021). Lịch sử đấu tranh chống phá càn quét, bình định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954),: Tập 2 1951-1954. Nxb Quân đội nhân dân
Bộ Tư lệnh Quân khu 5. (1986). Khu 5-30 năm chiến tranh giải phóng: Tập I: Kháng chiến chống thực dân Pháp. Bộ Tư lệnh Quân khu 5 xuất bản
Quân khu 5, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Kon Tum. (2021). Phong trào chiến tranh du kích trên địa bàn tỉnh Kon Tum (1945-1975). Nxb Quân đội nhân dân
Tỉnh ủy Quảng Nam - Thành ủy Đà Nẵng. (2006). Lịch sử Đảng bộ Quảng Nam -Đà Nẵng (1930-1975). Nxb Chính trị quốc gia
Viện Lịch sử Đảng, Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến. (1992). Nam Trung Bộ kháng chiến 1945-1975. Nxb Chính trị quốc gia.
Viện Lịch sử quân sự. (2024). Lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954: Tập V Phát triển thế tiến công chiến lược, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.

 

ThS LÊ VĂN THÀNH

Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam

1. Đặt vấn đềNăm 1949 Đảng bộ Liên khu V được thành lập, lãnh đạo các địa phương trên địa bàn các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, là cầu nối trực tiếp giữa Bắc Trung Bộ với Nam Bộ. Sau thất bại trong nhiều chiến dịch quân sự, từ năm 1951, thực dân Pháp đẩy mạnh thực hiện Kế hoạch De Lattre de Tassigny, tập trung tăng cường các hoạt động càn quét, bình định, lập hệ thống đồn bốt, tháp canh, củng cố chính quyên thực dân và tay sai, phát triển lực lượng quân đội nhằm từng bước kiểm soát địa bàn, tách lực lượng kháng chiến khỏi quần chúng nhân dân và xóa bỏ các vùng du kích, căn cứ kháng chiến ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.Trước tình hình đ&

Tin khác cùng chủ đề

Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Vai trò của phụ nữ Nam Bộ trong xây dựng và bảo vệ căn cứ địa cách mạng, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1969 - 1975)
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5-1941) nhận định thời cuộc, nắm bắt thời cơ, chuẩn bị lực lượng cho cách mạng giải phóng dân tộc
Hội nghị Trung ương 6 khóa IV - Bước đột phá trong đổi mới tư duy kinh tế của Đảng
Hoàng Minh Giám trên cương vị “trợ lý ngoại giao” của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Gửi bình luận của bạn