Dựng nước gắn với giữ nước là quy luật hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam qua hàng ngàn năm lịch sử, trở thành bài học vô giá cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định, ở Việt Nam “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Đó là nội dung nhất quán, xuyên suốt trong tư tưởng của Người, phản ánh mục tiêu của cách mạng Việt Nam, trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng để tập hợp toàn dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước gần 40 năm qua.

Giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn hiện nay
Giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn hiện nay
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” thể hiện sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp nhất là quan điểm về việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam với tư duy độc lập, sáng tạo.
Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn lịch sử các nước phương Tây, C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm, trong mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc có vai trò và tác động mạnh mẽ đến giai cấp, giải quyết vấn đề dân tộc tác động to lớn đến việc giải quyết vấn đề giai cấp; song, suy cho cùng, vấn đề giai cấp giữ vai trò quyết định sự hình thành, tính chất, xu hướng phát triển và mối quan hệ dân tộc. Với tư duy độc lập, Hồ Chí Minh nhận định: “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được”, bởi “Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại”1.
Độc lập trong tư duy, sáng tạo trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, xuất phát từ thực tế của tiến trình lịch sử dân tộc Việt Nam, trước khi tiến hành cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”2. Tuy nhiên, để giành độc lập và giữ vững được nền độc lập dân tộc thì không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản. Nghĩa là, đối với cách mạng Việt Nam, độc lập dân tộc và CNXH không thể tách rời.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành độc lập, tự do cho dân tộc và xây dựng CNXH, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân có mối quan hệ biện chứng; trong đó, độc lập dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ quan trọng trước hết của cách mạng, đồng thời là tiền đề để thực hiện mục tiêu lâu dài tiếp theo là xây dựng CNXH; ngược lại, xây dựng CNXH sẽ đảm bảo củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập, tự do của dân tộc. Tuy nhiên, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, giành độc lập dân tộc và xây dựng CNXH không phải là hai nhiệm vụ tách biệt, tiến hành lần lượt, xong nhiệm vụ này đến nhiệm vụ kia, mà có sự gắn kết chặt chẽ, thống nhất biện chứng, tạo điều kiện và tiền đề cho nhau. Giành được độc lập dân tộc mới chỉ là thắng lợi đầu tiên của cách mạng, nhưng để đi đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện cách mạng triệt để, phải xây dựng thành công CNXH, bởi “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”3, “mới cứu nhân loại, đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc và nguồn gốc sự tự do, bình đẳng, bác ái, đoàn kết, ấm no trên quả đất, việc làm cho mọi người và vì mọi người, niềm vui, hòa bình, hạnh phúc”4, mang lại “sung sướng, vẻ vang, tự do, bình đẳng” cho con người. Do đó, “cách mạng giải phóng dân tộc phải phát triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa thì mới giành được thắng lợi hoàn toàn”5, mới giải phóng thực sự, giải phóng triệt để, giải phóng hoàn toàn con người, giúp cho “dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật”6.
“Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là nội dung xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh, trở thành ngọn cờ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, dẫn dắt cách mạng Việt Nam trong tiến trình đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng xã hội mới.
Thực hiện công cuộc đổi mới trong bối cảnh hết sức phức tạp của tình hình thế giới, qua tổng kết chặng đường 5 năm đổi mới đầu tiên, một trong những bài học lớn được Đảng đúc kết trong Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991) là: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở đảm bảo vững chắc cho độc lập dân tộccho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc vẫn là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ hữu cơ với nhau. Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”7.
Qua 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 20 năm thực hiện Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội XI thông qua Cương lĩnh Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), trong đó tiếp tục nhất quán bài học: “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau”8. Văn kiện Đại hội XI một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”9
Tổng kết lý luận và thực tiễn 35 năm đổi mới, Đại hội XIII (2021) của Đảng chỉ rõ, giữ vững ngọn cờ, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là “vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”10. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là nội dung xuyên suốt trong các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, từ việc xác định mục tiêu tổng quát đến các mục tiêu cụ thể, 3 đột phá chiến lược, 5 quan điểm chỉ đạo, 6 nhiệm vụ trọng tâm, 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” luôn được Đảng kiên trì, giương cao và giữ vững, đồng thời từng bước hiện thực hóa một cách sáng tạo trong suốt tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và CNXH thể hiện tính khoa học, nhất quán, khẳng định lập trường cách mạng triệt để, kiên định của Đảng và nhân dân Việt Nam. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của gần 40 năm đổi mới chính là thành quả từ việc giữ vững ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng; không ngừng hiện thực hóa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, với những nhận thức và tư duy mới, đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
 
2. Bài học kinh nghiệm từ quá trình hiện thực hóa “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” qua gần 40 năm đổi mới
Một là, “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam, xuyên suốt mọi chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với nguyện vọng của quần chúng nhân dân.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH thể hiện sự thống nhất giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, tạo thành động lực, nguồn sức mạnh tổng hợp trong mỗi giai đoạn lịch sử. Độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện để xây dựng CNXH và chỉ có CNXH mới bảo đảm đầy đủ, thực chất và bền vững cho độc lập dân tộc. Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược không thể tách rời.
Trong bối cảnh hiện nay, độc lập dân tộc không đơn thuần chỉ là bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia - lãnh thổ, mà còn là độc lập tự chủ trong chủ trương, đường lối phát triển đất nước; độc lập dân tộc phải phấn đấu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn để phát triển. Chỉ có độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mới thực hiện được những mục tiêu đó. Đảng, Nhà nước và nhân dân phải kiên định, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH để tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Hai là, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong mọi giai đoạn của sự nghiệp cách mạng.
Thực tiễn đã chứng minh, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam, đảm bảo giữ vững và giương cao ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, năng lực lãnh đạo, bản lĩnh cầm quyền và sự mẫu mực đạo đức của Đảng có vai trò quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng đất nước, trong việc giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Do đó, tăng cường sự lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là nhiệm vụ then chốt. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng. Đảng phải thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, tăng cường đoàn kết thống nhất trong Đảng và hệ thống chính trị.
Ba là, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đảm bảo ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” được giữ vững. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân, sức mạnh tổng hợp quốc gia được bảo đảm bằng sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, phải phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH ở Việt Nam.
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế.
Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế trong tình hình mới là phải bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, đẩy mạnh đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Trong sự kết hợp này, sức mạnh dân tộc giữ vai trò quyết định, được thể hiện ở sức mạnh tổng hợp của quốc gia cả về vật chất và tinh thần, truyền thống và hiện đại, sức mạnh về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại được phát huy hiệu quả; sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường. Trong lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, sức mạnh của tinh thần, của ý chí, nhất là ý chí của cả một dân tộc giữ vai trò hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định. Sức mạnh thời đại và sức mạnh quốc tế cần phải được phát huy để tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài, sự ủng hộ, giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần của các nước; đồng thời, chủ động xử lý một cách đúng đắn, linh hoạt các mối quan hệ lớn trước những biến động phức tạp, khó lường của thế giới. Trong bối cảnh mới hiện nay, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, kiên định độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường là vấn đề có tính nguyên tắc để mở rộng và nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam.
Năm là, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế trên cơ sở bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
Lợi ích giai cấp của cách mạng Việt Nam là dưới sự lãnh đạo của Đảng thực hiện toàn diện, triệt để mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột. Lợi ích dân tộc là đất nước được độc lập, tự do, nhân dân có đời sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nghĩa là, lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc là thống nhất.
Trong bối cảnh hiện nay, lợi ích quốc gia - dân tộc cao nhất của Việt Nam là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ gắn liền với bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Khi hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lợi ích quốc gia - dân tộc phải gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc tế để vừa tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ, hợp tác để phát triển, vừa thực hiện tốt trách nhiệm quốc tế của mình trên cơ sở Hiến chương Liên hiệp quốc và luật pháp quốc tế. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc và lợi ích quốc tế trên cơ sở đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.
 
3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm giữ vững ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn hiện nay
 Một là, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tạo tiền đề vật chất cho CNXH và bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc. Đó là cơ sở cấu thành sức mạnh quốc gia, đảm bảo giữ vững độc lập dân tộc và chế độ XHCN. Để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phải tập trung hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, đảm bảo khơi thông mọi nguồn lực và phát huy mọi động lực cho phát triển kinh tế. Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, để xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ không chỉ phải tiếp tục đẩy mạnh CNH, HĐH, mà còn phải biết “đi tắt đón đầu”, đi vào những lĩnh vực mới như kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, để xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ, dù là nền kinh tế mở vẫn phải tập trung xây dựng tiềm lực kinh tế nội tại của đất nước. Điều này có nghĩa, tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, tận dụng các cơ hội của thời đại phải hướng mạnh đến mục tiêu củng cố và nâng cao sức mạnh kinh tế của đất nước bền vững. Điều này chỉ có được khi Việt Nam có hệ thống doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất ra tư liệu sản xuất, nhất là những lĩnh vực then chốt nhất và hệ thống các doanh nghiệp nội địa có thể tham gia, bắt kịp tiến bộ trong các lĩnh vực mũi nhọn hiện nay của thế giới.
Hai là, không ngừng hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trên thực tế, nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và nền dân chủ XHCN Việt Nam đã trở thành những trụ cột chính trong nền chính trị mới, vừa phản ánh bản chất của chế độ XHCN, vừa phù hợp xu thế của thời đại. Để giữ vững ngọn cờ “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”, nhất thiết phải dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc xây dựng, củng cố nhà nước XHCN, bởi nhà nước bị quy định bởi chế độ chính trị song đến lượt mình, nhà nước trở thành công cụ chủ yếu để giữ vững ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong bối cảnh nhiều biến động hiện nay. 
Ba là, xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, hiện thực hóa phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Dân chủ là động lực, mục tiêu, là phương thức thực thi quyền lực, phản ánh bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Hơn thế, dân chủ trở thành một giá trị, một tiêu chí để phân biệt mức độ tiến bộ của một thể chế chính trị. Nhờ đó, nó có thể huy động, tập hợp sức mạnh của nhân dân, góp phần quan trọng để bảo vệ và giữ vững ngọn cờ “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”.
Bốn là, phát huy mạnh mẽ tính ưu việt của chế độ XHCN, làm cho tính chất tốt đẹp của CNXH thể hiện sinh động trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đúng như cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường”11. Đó là những giá giá trị đích thực, thể hiện tính ưu việt của CNXH, nên cần kiên định, kiên trì theo đuổi và hiện thực hóa trong đời sống xã hội.
Năm là, giải quyết hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xây dựng và bảo vệ là hai mặt thống nhất của hành trình phát triển. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã xác định, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”; phải bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; kết hợp nhiều loại sức mạnh; dựa vào nhân dân cũng như định chế, luật pháp quốc tế; dựa vào lẽ phải, chính nghĩa... Những tổng kết này hiện vẫn nguyên giá trị. Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, xuất hiện chiến tranh hiện đại nên lực lượng vũ trang tất yếu phải được hiện đại hóa. Trong điều kiện tiềm lực đất nước còn có hạn, không thể đầu tư phát triển dàn trải mà cần phải lựa chọn một số mũi nhọn; đặc biệt cần phát huy sức mạnh tổng thể để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng CNXH.
Sáu là, xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, đặt ra yêu cầu phải xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, phục vụ hiệu quả mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Nền ngoại giao đó hướng tới nhiều mục tiêu, đưa lại hiệu quả thực chất và có thể thích ứng với các diễn biến rất nhanh chóng, khó dự báo của tình hình thế giới hiện nay.
 Bảy là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự tiên phong, gương mẫu. CNXH hướng tới những giá trị cao đẹp nhất mà nhân loại khát khao nên sự nghiệp đó hết sức khó khăn, phức tạp, phải trải qua gian khổ, hy sinh. Đó là một sự nghiệp đòi hỏi ý thức tự giác cao độ của các chủ thể xã hội, từ người dân đến đội ngũ cán bộ đảng viên, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên mà đội tiền phong của giai cấp công nhân là chính đảng cộng sản. “Đảng Cộng sản Việt Nam là bộ tham mưu, là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”12. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Do đó, Đảng phải đại diện cho “đạo đức, văn minh”. Muốn vậy, phải có đội ngũ cán bộ đảng viên đáp ứng yêu cầu, “vừa hồng, vừa chuyên”, dẫn dắt công cuộc kiến tạo vĩ đại.
Tám là, phát huy ý chí tự lực tự cường, khát vọng phát triển đất nước của mọi tầng lớp nhân dân. Thực tiễn cách mạng phong phú của Việt Nam cho thấy, một khi ý chí tự lực, tự cường, khát vọng phát triển đất nước cường thịnh của mọi tầng lớp nhân dân được khơi dậy và phát huy thì cách mạng vượt qua những khó khăn, thử thách và thu được thành tựu to lớn. Khi động lực từ nhân dân được khơi thông, thì đất nước ổn định, phát triển. Tuy nhiên, để tiếp tục phát huy động lực đó, cần quan tâm xây dựng, thực thi các cơ chế phù hợp, bởi bản thân tinh thần, tư tưởng tự nó không có sức mạnh và nó chỉ trở thành sức mạnh khi thâm nhập vào quần chúng, trở thành hành động của quần chúng. Điều này đòi hỏi lãnh đạo, quản lý xã hội phải hoàn thiện thể chế, cơ chế để giải phóng mọi tiềm năng, nguồn lực mà trong đó, vấn đề cốt lõi nhất là lợi ích của quần chúng nhân dân được bảo đảm.
Từ lý luận đến thực tiễn cách mạng Việt Nam đều cho thấy, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là ngọn cờ tư tưởng, lý luận của Đảng, phản ánh mục tiêu nhất quán của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay. Dưới ngọn cờ đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân kết thành một khối thống nhất, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giành thắng lợi trong cách mạng dân tộc dân chủ, đưa lại độc lập cho dân tộc, thống nhất cho Tổ quốc. Trong gần 40 năm đổi mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục giữ vững, giương cao ngọn cờ đó, nhờ vậy mà cách mạng Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Trong bối cảnh mới với nhiều thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen hiện nay, càng phải giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, để phát triển đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước tiến lên CNXH.
 
 

 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng (in) số 9/2024
1, 4. Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2011, T. 1, tr. 510, 496
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, T. 7,  tr. 112
3, 6. Hồ chí Minh Toàn tập, Nxb CTQG,  H, 2011, T. 12, tr. 563, 304
5. Sđd, T. 15, tr. 392
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới Phần I (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb CTQGST, H, 2019, tr. 424
8, 9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới Phần II (Đại hội X, XI, XII), Nxb CTQGST, H, 2019, tr. 498, 313
10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb CTQGST, H, 2021, T. I,  tr. 33
11. Nguyễn Phú Trọng: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb CTQGST, H, 2022, tr. 22
12. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2011, tr. 4.
GS, TS LÊ VĂN LỢI
Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” thể hiện sự vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, trực tiếp nhất là quan điểm về việc giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc vào điều kiện cụ thể của Việt Nam với tư duy độc lập, sáng tạo.Trên cơ sở nghiên cứu, tổng kết thực tiễn lịch sử các nước phương Tây, C.Mác và Ph.Ăngghen quan niệm, trong mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, dân tộc có vai trò và tác động mạnh mẽ đến giai cấp, giải quyết vấn đề dân tộc tác động to lớn đến việc giải quyết vấn đề giai cấp; song, suy cho cùng, vấn đề giai cấp giữ vai trò quyết định sự hình thành, t&iacut

Tin khác cùng chủ đề

Về một số luận điểm của chủ nghĩa Mác trong kỷ nguyên số
Quan điểm về phát triển nguồn nhân lực trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV
MẠNG LƯỚI TRUYỀN BÁ TƯ TƯỞNG MARX – LENIN TRONG THANH NIÊN TIỂU TƯ SẢN VIỆT NAM (1920 – 1930) – TIỀN ĐỀ TƯ TƯỞNG VÀ NHÂN LỰC CỦA SỰ RA ĐỜI ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Khánh Hòa tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng
Phát huy lợi thế về thể chế, xây dựng nhà nước kiến tạo dẫn dắt phát triển và bộ máy quản trị quốc gia hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả

Gửi bình luận của bạn