Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp có sự gắn bó đặc biệt của những con người có chung chí hướng. Đó là một biểu tượng sáng ngời về tình cảm, sự đồng cảm của một nhà lãnh đạo, một người chỉ huy, một người thầy, một người anh... thấm đượm tình đồng chí sâu đậm. Đó là hiện thân của sự gắn kết ý chí, niềm tin, sự chân thành, sự tận tụy của hai con người vĩ đại, của sức mạnh dân tộc Việt Nam. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà lãnh đạo quân sự điển hình mang tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Cuối những năm 30 thế kỉ XX, tình hình thế giới và trong nước có lợi cho cách mạng Việt Nam, nắm bắt cơ hội đó, đầu năm 1940, với các bí danh “Hồ Quang”, “ông Trần”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), để bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây như: Vũ Anh (Trịnh Đông Hải), Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp..., chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động.
Tháng 6-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (mang bí danh đồng chí Vương) bắt liên lạc với hai đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (vừa từ trong nước sang). Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học chính trị và quân sự tại Diên An, nhưng do tình hình thế chiến có thay đổi nên Người điện báo quay về Quế Lâm đợi chỉ thị mới. Ấn tượng về cuộc gặp đầu tiên được Võ Nguyên Giáp ghi lại: “Tôi thấy Bác hoàn toàn không giống như những điều mình hằng tưởng tượng. Ngay từ phút đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần Bác, được quen biết Bác từ lâu rồi. Con người của Bác toát ra một cái gì rất trong sáng, giản dị... Cho mãi về sau này, được công tác trực tiếp với Bác, tôi vẫn giữ lại nguyên vẹn cái cảm giác như ngày gặp Bác lần đầu tiên trên bờ Thúy Hồ. Ở Bác, trước sau vẫn là phong cách giản dị và trong sáng ấy. Tôi nghĩ, con người vĩ đại thường là con người lúc nào cũng giản dị”1
Tháng 9-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến gặp Võ Nguyên Giáp tại vùng ngoại ô Quế Lâm. Người thông báo tình hình thế giới và ở Đông Dương ngày càng có lợi cho nên phải tìm cách trở về nước hoạt động. Đầu tháng 12-1940, Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc gọi đến Tĩnh Tây để mở lớp huấn luyện. Đầu năm 1941, ông cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước. Tháng 4-1941, Võ Nguyên Giáp lại được cử sang Quế Lâm để phối hợp với Quốc dân Đảng mở lớp huấn luyện quân sự cho một số cán bộ cách mạng của ta và cứ khoảng nửa tháng một lần, Võ Nguyên Giáp và các đồng chí khác lại thay nhau về Pác Bó báo cáo tình hình với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Cuối năm 1941, Võ Nguyên Giáp về nước và được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc giao nhiệm vụ về châu Hòa An để mở lớp huấn luyện công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Sau khi Đội tự vệ vũ trang đầu tiên được thành lập, Võ Nguyên Giáp tiếp tục đi giúp Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng gây dựng phong trào, và các nơi đều đã tổ chức ra các đội tự vệ và tự vệ chiến đấu.
Tháng 9-1944, sau hơn một năm bị Quốc dân Đảng giam giữ, lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Liễu Châu về nước. Tháng 10-1944, biết tin Người trở về, đồng chí Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh tìm gặp. Sau khi nghe Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh báo cáo tình hình và chủ trương phát động chiến tranh du kích, đấu tranh chống địch khủng bố, khởi nghĩa vũ trang (thực chất là phát động khởi nghĩa bộ phận) của Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng, Người quyết định hoãn việc phát động chiến tranh du kích của các tỉnh này. Người chỉ rõ: “Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải nhằm gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, do đó mà mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Chúng ta sẽ lập đội Quân giải phóng”2. Sau một đêm và một ngày thảo luận, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã đặt tên cho đội quân Giải phóng đầu tiên và dặn thêm Võ Nguyên Giáp: “Tình hình quốc tế đang có nhiều điều kiện thuận lợi. Trong vòng một tháng phải có hoạt động. Trận đầu nhất định phải thắng lợi”3. Đầu tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh tiễn đồng chí Võ Nguyên Giáp đi chuẩn bị thành lập đội quân Giải phóng và dặn thêm: “Nhớ bí mật: ta ở Đông, địch tưởng ta ở Tây. Lai vô ảnh, khứ vô tung”4. Giữa tháng 12-1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh gửi một bức thư nhỏ (được đặt trong bao thuốc lá) cho đồng chí Võ Nguyên Giáp, đó là Chỉ thị thành lập Đội Giải phóng quân, Người khẳng định: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”5. Chiều ngày 22-12-1944, trong khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, Võ Nguyên Giáp chủ trì buổi lễ thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Tháng 4-1945, Trung ương Đảng quyết định triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ, tại hội nghị này đồng chí Võ Nguyên Giáp được cử vào Ủy ban Quân sự cách mạng. Ngày 15-5-1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các tổ chức vũ trang cách mạng trong cả nước thành Việt Nam Giải phóng quân.
Ngày 17-5-1945, Võ Nguyên Giáp đi đón lãnh tụ Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào.  Tháng 6-1945, Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ thành lập Ủy ban Chỉ huy lâm thời Khu giải phóng, Người nói: “Nay vùng giải phóng ở miền ngược đã bao gồm các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế nối liền với nhau, nên lập thành một khu căn cứ lấy tên là Khu giải phóng. Thống nhất các lực lượng vũ trang lại là rất đúng, nên đặt là Quân giải phóng”6 và Tân Trào được chọn làm thủ đô của Khu Giải phóng. Cuối tháng 7-1945, khi đang chuẩn bị Hội nghị toàn quốc của Đảng và Quốc dân Đại hội, do điều kiện làm việc vất vả, ăn uống kham khổ, sức khỏe vốn đã giảm sút sau khi bị giam giữ, lãnh tụ Hồ Chí Minh bị ốm nặng. Người sốt liên miên, lúc tỉnh lúc mê. Đồng chí Võ Nguyên Giáp làm việc gần đó nên hằng ngày lên lán Nà Lừa nơi lãnh tụ Hồ Chí Minh ở để báo cáo tình hình và hỏi thăm sức khỏe, Người luôn nói “tôi không việc gì”! Nhưng Người uống vài viên thuốc cảm và ký ninh mà không thấy đỡ. Một hôm lên lán, thấy Người rất yếu, lại đang lên cơn sốt nên, Võ Nguyên Giáp rất lo, xin ở lại để chăm sóc. Đêm đó, khi tỉnh lại, Người nói với Võ Nguyên Giáp: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”7. Rồi mỗi lúc nhớ ra thêm điều gì, Người lại dặn, chắc vì lúc ấy Người cũng tự thấy sức mình yếu quá. Hôm sau, Võ Nguyên Giáp viết thư hỏa tốc báo cáo Trung ương, đồng thời hỏi bà con địa phương, mời được một ông lang quen trị bệnh sốt nóng. Ông lang người Tày đến xem mạch, rồi đốt cháy một thứ củ trong rừng, hòa vào cháo loãng cho Người ăn. Sau đó, Người tỉnh lại và hôm sau ăn thêm vài lần cháo thuốc nữa, cơn sốt nhẹ dần. Lãnh tụ Hồ Chí Minh đã gượng dậy tiếp tục làm việc ngay. Tại Quốc dân Đại hội Tân Trào (ngày 16, 17-8-1945), đồng chí Võ Nguyên Giáp được bầu vào Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, là Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Võ Nguyên Giáp tháp tùng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên xe ô tô ra quảng trường Ba Đình. Người đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sau lễ Độc Lập, một số cơ quan trong đó có Bộ Nội vụ chuyển trụ sở đến Bắc Bộ Phủ, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh ở và làm việc. Thời gian này, Chủ tịch Hồ Chí Minh có các cuộc tiếp xúc ngoại giao và gặp riêng các chính trị gia như: Patti, Sainteny, D’Argenlieu, và đều có sự tham dự của đồng chí Võ Nguyên Giáp.
Ngày 16-5-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 60/SL đổi tên “Ủy ban kháng chiến toàn quốc” thành “Quân sự ủy viên Hội”, đồng chí Võ Nguyên Giáp được giao trọng trách làm Chủ tịch Hội.
Trước khi phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi dự hội đàm ở Pháp, Hội đồng Chính phủ (HĐCP) đã quyết định lập một Ủy ban nghiên cứu đặc biệt các vấn đề sẽ đàm phán ở Paris, trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp. Trước ngày sang thăm chính thức nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký nhiều sắc lệnh, trong đó ủy nhiệm Võ Nguyên Giáp thay Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đi công tác vắng. Sau hơn ba tháng thăm Pháp, con tàu Dumont d’Urville đưa Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước, cập bến cảng Hải Phòng ngày 20-10-1946. Tham dự lễ đón Người có Quyền Chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng và Võ Nguyên Giáp.
Tình hình ngày càng căng thẳng do Pháp liên tiếp gây hấn, khiêu khích, nhằm châm ngòi một cuộc chiến tranh, ngày 30-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 230/SL, bổ nhiệm Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Chỉ huy Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. Chuẩn bị cho toàn quốc kháng chiến, căn cứ địa Việt Bắc được tiếp tục củng cố, nhiều nhà máy, kho tàng của ta ở thành phố được đưa dần về vùng căn cứ, chuẩn bị mọi mặt cho việc di chuyển các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước khi cần. Một hôm sau cuộc họp HĐCP, Chủ tịch Hồ Chí Minh hỏi Võ Nguyên Giáp nếu có chiến tranh thì Hà Nội giữ được bao lâu? Đồng chí Võ Nguyên Giáp trả lời Hà Nội thì một tháng, còn các vùng nông thôn thì nhất định giữ được! Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ giây lát rồi quyết định: “Ta lại trở về Tân Trào”8. Ngày 19-12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các cơ quan Đảng, Chính phủ hành quân trở lại Việt Bắc.
Trong suốt cuộc trường kì kháng chiến, mặc dù gặp vô vàn khó khăn và phải di chuyển nhiều địa điểm nhưng các cuộc họp của Thường vụ Trung ương, HĐCP, Hội đồng quốc phòng và Đảng Đoàn vẫn được tổ chức thường xuyên tại các địa điểm bí mật khác nhau trong An toàn khu (ATK). Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn phân tích tình hình thế giới và trong nước để đưa ra những chỉ đạo kịp thời, chính xác. Tháng 9-1947, khi nghe Võ Nguyên Giáp báo cáo tình hình quân sự, Người nói: “Địch đưa sang thêm nhiều viện binh. Nay mai chiến sự sẽ lan rộng và ác liệt hơn, dân mình còn phải khổ cực nhiều... Thu Đông này các chú chuẩn bị tốt chưa?”9. Ngay tuần đầu tháng 10-1947, địch mở cuộc tấn công lên Việt Bắc. Sau khi nhận được thư “hoả tốc” của đồng chí Võ Nguyên Giáp báo tin địch sẽ nhảy dù xuống một số địa điểm, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lệnh chuyển cơ quan. Sau mấy tháng, chiến dịch Lea và “Clo clo” của địch thất bại hoàn toàn tại Việt Bắc. Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 110/SL, phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ngày 28-5-1948, Người chủ trì lễ phong quân hàm Đại tướng đầu tiên trong Quân đội nhân dân Việt Nam trực tiếp đọc Sắc lệnh và xúc động nói: “Hôm nay việc phong tướng cho chú Giáp và các chú khác cũng là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí. Chúng ta phải cố gắng, phải quyết giành được độc lập tự do cho thoả lòng những người đã khuất... Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Bác trao cho chú hàm Đại tướng để chú điều khiển binh sỹ, làm tròn sứ mệnh mà nhân dân phó thác cho”10. Sau buổi lễ, một nhà báo Pháp phỏng vấn Chủ tịch Hồ Chí Minh không mấy thiện ý: “Xin Chủ tịch cho biết dựa trên nguyên tắc nào mà phong chức tướng?”. Người trả lời: “Chúng tôi đánh du kích chống thực dân Pháp nên cũng phong hàm quân đội một cách du kích. Ví dụ một cán bộ quân đội nào đánh thắng một quan ba Pháp thì chúng tôi phong đồng chí ấy làm quan ba. Theo nguyên tắc này (chắc các ông thừa nhận là đúng) thì đồng chí Võ Nguyên Giáp của chúng tôi đáng lẽ phải được phong mấy lần Đại tướng và Đô đốc vì đã đánh thắng nhiều tướng và đô đốc Pháp”11. Tháng 1-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số đồng chí nghe báo cáo về việc thành lập cơ sở ban đầu của Không quân, Người dặn: “Ta đã định làm cái gì thì phải làm cho được. Ban đầu chỉ nên là Ban nghiên cứu Không quân thôi”12. Tháng 6-1950, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên Giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ thị: “Chiến dịch này chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại”13. Sau khi cùng Ban Thường vụ Trung ương chuẩn y phương án tác chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lên đường đi chiến dịch. Chiến dịch Biên giới thắng lợi, ngày 19-12-1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 477/SL tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh hạng Ba cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp về thành tích: Đã chỉ huy quân đội và dân quân chiến thắng giặc trong 5 năm kháng chiến trên các chiến trường, đặc biệt trong trận bảo vệ Việt Bắc - Thu Đông 1947 và trong Chiến dịch giải phóng biên giới mùa thu 1950.
Tháng 2-1951, tại Đại hội II của Đảng, Đại tướng được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được bầu vào Bộ Chính trị. Tháng 6-1952, tại Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc lần thứ nhất, các chiến sĩ trẻ sau khi được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xin phép công kênh Người đi một vòng. Chủ tịch Hồ Chí Minh cười, chỉ tay vào Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Các chú trông thấy không? Đại tướng của các chú sắp tới. Bác cho phép các chú công kênh Đại tướng của các chú đấy!”14. Các chiến sĩ trẻ ùa tới Đại tướng giữa tiếng hoan hô vui vẻ.
Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và trực tiếp là Đại tướng Tổng tư lệnh, cuộc kháng chiến của quân và dân Việt Nam tiến lên từng bước vững chắc. Quân đội đã giành nhiều thắng lợi lớn qua các chiến dịch: Trần Hưng Đạo (12-1950 – 1-1951); Hoàng Hoa Thám (3-1951); Quang Trung (5-1951); Hòa Bình (12-1951); Tây Bắc (10-1952); giúp cách mạng Trung Quốc mở rộng căn cứ ở vùng Thập Vạn Đại Sơn (6-1949) và cử quân tình nguyện Việt Nam sang giúp phong trào kháng chiến Lào giành thế chủ động chiến trường, phối hợp với quân đội Pathet Lào giải phóng Thượng Lào (4-1953)...
Trước những thất bại nặng nề liên tiếp, Hội đồng quốc phòng Pháp thông qua kế hoạch Navarre, tập trung quân phòng ngự chiến lược và tiến hành chiếm đóng Điện Biên Phủ. Ngày 6-12-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ Chính trị thông qua kế hoạch tác chiến của Bộ Tổng tư lệnh và quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Người chỉ thị cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến dịch này là một chiến dịch rất quan trọng không những về quân sự mà cả về chính trị, không những đối với trong nước mà đối với quốc tế. Vì vậy, toàn quân, toàn dân, toàn Đảng phải tập trung hoàn thành cho kỳ được...”15. Tháng 1-1954, trước khi lên đường ra mặt trận, Đại tướng đến chào Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người còn dặn thêm: “Tổng tư lệnh ra trận. Tướng quân tại ngoại! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh”16. Kết quả sau 55 ngày đêm quân dân Việt Nam anh dũng chiến đấu, khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt, máu trộn bùn non, chiều ngày 7-5-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
Đầu tháng 7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Đại tướng Võ Nguyên Giáp đi Liễu Châu để hội đàm với Thủ tướng Chu Ân Lai về việc lập lại hòa bình ở Đông Dương và những vấn đề có liên quan trong cuộc đàm phán ở Hội nghị Genève. Ngồi trên xe lửa về nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh suy nghĩ rất nhiều. Người nói với Đại tướng: “Nếu muốn chấm dứt chiến tranh, phải chấp nhận một giới tuyến quân sự tạm thời giữa ta và địch. Các bạn Liên Xô, Trung Quốc đều ngại chiến tranh kéo dài, muốn ta đạt được một thỏa thuận với Pháp. So sánh lực lượng giữa ta và địch lúc này, ta đang ở thế có lợi, nhưng về mặt quân sự, với sự giúp đỡ của Mỹ, địch vẫn có nhiều khả năng không những bù đắp được những tổn thất mà còn tăng cường thêm lực lượng. Ta cũng cần có một thời gian hòa bình, một khu vực hoàn chỉnh, có Thủ đô, cảng biển, sân bay để củng cố những thành quả của cách mạng và kháng chiến, xây dựng lực lượng chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất hoàn toàn...”17. Sau khi Hiệp định Genève chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, miền Bắc được giải phóng. Nhân dịp Quốc khánh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 219/SL, thưởng Huân chương Quân công hạng Nhất cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Việt Nam phải cùng lúc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược vừa xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa tiến hành đấu tranh thống nhất đất nước. Ngày 22-12-1964, khi dự chiêu đãi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhân kỉ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”18.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần Không có gì quý hơn độc lập tự do, từ tháng 9-1955, Đại tướng Võ Nguyên Giáp lần lượt đảm nhiệm các cương vị Bí thư Quân ủy Trung ương, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam, đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII, ông đã cùng quân dân cả nước hoàn thành xuất sắc vai trò và trách nhiệm lịch sử. Quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ từ hình thức điển hình của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam (1954-1960) đến chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961-1965), chiến lược “Chiến tranh cục bộ” (1965-1968). Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh chữa bệnh tại Trung Quốc, Đại tướng đã sang thăm và báo cáo tình hình chiến sự với Người. Tháng 8-1969, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn túc trực bên Chủ tịch Hồ Chí Minh
Đại tướng Võ Nguyên Giáp được đánh giá là một trong những nhà lãnh đạo quân sự lỗi lạc trong lịch sử Việt Nam. Nhiều tờ báo quốc tế ca ngợi Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Anh hùng dân tộc của nhân dân Việt Nam, là “người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Trong suốt quá trình phục vụ đất nước, Ðại tướng luôn luôn đặt lợi ích của dân tộc, của cách mạng, đất nước và nhân dân lên trên hết, trước hết. Do công lao và sự cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, có uy tín lớn trong nước và trên thế giới, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng và nhiều huân, huy chương cao quý khác của Việt Nam và quốc tế. Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một nhà lãnh đạo quân sự điển hình mang tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và là người đi đầu trong việc đề xuất nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp làm Chủ nhiệm đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.02: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam và được nghiệm thu đạt loại xuất sắc năm 1997.
  
 
 
Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 11/2024
1, 2, 3, 4, 6, 7, 8, 16, 17. Đại tướng Võ Nguyên Giáp- Tổng tập hồi ký, Nxb QĐND, H, 2006, tr. 18, 83, 84, 86, 123, 130, 350, 900, 1114
5, 9, 12, 15. Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp và Điện Biên Phủ, Nxb Văn Học, H, 2014, tr. 14, 41, 43, 51
10. Càng  nhớ Bác Hồ, Nxb Thanh Niên, H, 1999, tr. 90
11. Tác phẩm mới số tháng 7/1970
13. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQGST, H, 2016, T. IV, tr. 357
14. Chuyện kể về Bác Hồ, Nxb Nghệ An 2000, T. II, tr. 44
18. Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử, Nxb CTQGST, H, 2016, T. IX, tr. 134.
ĐỖ HOÀNG LINH
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch
Cuối những năm 30 thế kỉ XX, tình hình thế giới và trong nước có lợi cho cách mạng Việt Nam, nắm bắt cơ hội đó, đầu năm 1940, với các bí danh “Hồ Quang”, “ông Trần”, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đến Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), để bắt liên lạc với các đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương đang hoạt động tại đây như: Vũ Anh (Trịnh Đông Hải), Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp..., chuẩn bị điều kiện về nước hoạt động.Tháng 6-1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc (mang bí danh đồng chí Vương) bắt liên lạc với hai đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp (vừa từ trong nước sang). Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cử đi học chính trị và quân sự tại Diên An, nhưng do tình hì

Tin khác cùng chủ đề

Trung ương Cục Miền Nam lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc (7-1954-2-1955)
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (16/7/1930 - 16/7/2026): Sức sống mới trên quê hương cách mạng
Hành trình đến độc lập, tự do của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)

Gửi bình luận của bạn