Thực hiện Hiệp định Genève, Đảng chủ trương tập kết, chuyển cán bộ, chiến sĩ từ miền Nam ra miền Bắc. Quán triệt chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam trực tiếp lãnh đạo công tác tập kết, tổ chức chuyển quân ra Bắc và bố trí cán bộ ở lại. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục, công tác tập kết, chuyển quân diễn ra thành công tại 3 khu vực theo quy định của Hiệp định gồm: Khu tập kết 80 ngày ở Hàm Tân (thuộc tỉnh Bình Thuận) - Xuyên Mộc (thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu); Khu tập kết 100 ngày ở Cao Lãnh, Đồng Tháp Mười (tỉnh Long Châu Sa, nay là tỉnh Đồng Tháp); Khu tập kết 200 ngày ở Cà Mau.

Trung ương Cục Miền Nam lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc (7-1954-2-1955)
Trung ương Cục Miền Nam lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc (7-1954-2-1955)
Hiệp định Genève được ký kết ngày 21-7-1954, miền Bắc được giải phóng, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, tạm thời nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền do Mỹ dựng lên. Ngày 6-9-1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị “Về tình hình mới, nhiệm vụ công tác của miền Nam”, trong đó nêu rõ: “Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc...1. Tiếp đó, Nghị quyết Bộ Chính trị họp từ ngày 5 đến 7-9-1954 chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng bộ, nhân dân miền Nam trong tình hình mới là: “Lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ..., cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”2. Thực hiện chủ trương và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, Trung ương Cục miền Nam đã khẩn trương lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc. 
Theo quy định của Hiệp định Genève, trong thời gian 35 ngày, tính từ ngày 21-7-1954 đến đến 6 giờ ngày 26-8-1954, các lực lượng vũ trang, các cơ quan Dân - Chính - Đảng từ các địa bàn Nam Bộ, bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Campuchia hoàn tất việc tập kết tại ba địa điểm: Hàm Tân - Xuyên Mộc, Cao Lãnh - Đồng Tháp và Cà Mau. Cũng tính từ ngày 21-7-1954, thời gian tập kết và hoàn thành việc chuyển quân ra miền Bắc tại Hàm Tân - Xuyên Mộc là 80 ngày (đến 6 giờ ngày 11-10-1954); tại Cao Lãnh - Ðồng Tháp Mười là 100 ngày (đến 6 giờ ngày 30-10-1954) và tại Cà Mau là 200 ngày (đến 6 giờ ngày 10-2-1955).
Lãnh đạo chuẩn bị và tiến hành chuyển quân tập kết là một trong những công tác trọng tâm lớn, đòi hỏi sự nỗ lực cao của Trung ương Cục miền Nam và các cấp ủy đảng ở Nam Bộ. Để thuận lợi cho công tác tập kết, chuyển quân, các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam và Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam Bộ chuyển về đóng dọc theo kinh Huyện Sử, chỉ đạo 2 nhiệm vụ: tổ chức chuẩn bị tập kết và  bố trí cán bộ ở lại miền Nam.
Từ tháng 8-1954 đến đầu năm 1955, Trung ương Cục miền Nam đề ra nhiều chủ trương chỉ đạo các cấp ủy lãnh đạo chặt chẽ công tác tập kết, chuyển quân. Đầu tháng 8-1954, Trung ương Cục miền Nam ban hành Chỉ thị số 41/CT-TWC “Về việc tập kết quân đội và chính quyền”, nêu rõ những yêu cầu về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, các tiêu chí lựa chọn cán bộ trong thực hiện tập kết và những đồng chí ở lại Nam Bộ. Đối với bộ phận ở lại, Chỉ thị quy định rõ: chính quyền ở cấp xã, cán bộ đảng viên (trừ một số trường hợp không đủ sức khỏe, hoặc thật sự cần thiết cho nhiệm vụ xây dựng miền Bắc,...) phải ở lại, dựa vào dân, bám trụ địa bàn làm hạt nhân lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh chính trị, đòi thi hành Hiệp định. Đối với các cơ quan, lực lượng tập kết ra Bắc phải được tổ chức thành các đơn vị.
Việc tiến hành tập kết trong hoàn cảnh hết sức phức tạp đã nảy sinh những vấn đề: biến động tổ chức, xáo trộn về tư tưởng, tình cảm, tâm lý người đi tập kết, người ở lại. Ổn định tư tưởng là một trong những yêu cầu hàng đầu đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trong khi thi hành chủ trương tập kết của Đảng, nhiều cấp ủy đảng đã buông lỏng lãnh đạo, xuất hiện tư tưởng sai lầm như cho rằng việc đi tập kết là “để chạy giặc, để hưởng lợi lộc cá nhân”3. Những sai lầm đó đã gây những ảnh hưởng đến các tổ chức đảng ở xã, huyện. Tại khu vực Long - Châu - Hà4, do chưa làm tốt công tác tư tưởng trong cán bộ, đảng viên nên nhiều xã có tới 50 cán bộ đi tập kết. Nhiều cán bộ ở các tỉnh vùng du kích, tạm bị chiếm, tản cư về vùng căn cứ Bạc Liêu cũng yêu cầu được tập kết ra Bắc; có hiện tượng cán bộ bán nhà cửa, ruộng vườn để đưa gia đình tập kết ra Bắc,...
Ở một số địa phương, những việc liên quan đến kế hoạch chuyển quân có nguy cơ làm lộ bí mật, trong khi địch đã tung nhiều gián điệp vào vùng ta để tuyên truyền xuyên tạc chủ trương của Đảng; dụ dỗ lừa mị nhân dân, phá hoại tổ chức, điều tra số cán bộ ở lại nhằm tiêu diệt, phá hoại tổ chức đảng sau này. Để bảo đảm giữ bí mật, ngày 19-8-1954, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 47/CT-TWC “Về giữ bí mật việc tập kết”, yêu cầu các cấp ủy đảng trong các khu vực tập kết chỉ đạo chấm dứt ngay và triệt để các hiện tượng làm lộ bí mật, đồng thời giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức rõ tầm quan trọng của viêc giữ bí mật kế hoạch, hoạt động chuyển quân ra Bắc.
Nhằm chấn chỉnh công tác tổ chức, đồng thời tăng cường giữ bí mật, Trung ương Cục tiếp tục ra Chỉ thị số 50/CT-TWC, ngày 20-8-1954, về “Cải bổ chỉ thị về tập kết số 41/CT-TWC”. Chỉ thị nhấn mạnh việc triệt để giữ bí mật những vấn đề liên quan đến kế hoạch chuyển quân tập kết, tuyệt đối giữ bí mật danh sách cán bộ, đảng viên đi hay ở lại nhằm bảo đảm công tác chuyển quân diễn ra đúng kế hoạch và an toàn cho cán bộ, đảng viên hoạt động sau này. Đối với các đồng chí tự nguyện ở lại địa phương công tác, Trung ương Cục miền Nam chỉ thị cho các tỉnh Vĩnh Trà, Bến Tre trong khu vực tập kết Cà Mau sắp xếp tạo điều kiện để cán bộ ở lại có thể bám sát dân, hoạt động trong hoàn cảnh mới. Trung ương Cục miền Nam chỉ rõ, cần phải chấn chỉnh “những sai lầm tai hại” trong nhận thức bằng việc giáo dục tư tưởng, chính trị để cán bộ, đảng viên thông suốt nhiệm vụ đi ra Bắc hay ở lại cũng đều là để chiến đấu, đều vinh quang. Cấp ủy, chính quyền không được buông lỏng lãnh đạo; phải dựa vào tiêu chuẩn tập kết để lựa chọn người đi hay ở lại cho đúng và phù hợp với điều kiện, tình hình cán bộ, đồng thời không áp dụng máy móc, hoặc bừa bãi những tiêu chuẩn của Trung ương đã đề ra. Trung ương Cục miền Nam nhấn mạnh, về công tác tư tưởng, cần nâng cao ý thức chiến đấu cho cán bộ, đảng viên, nhân viên trong các cơ quan kháng chiến, làm cho họ nhận thức rõ nhiệm vụ phải liên tục chiến đấu để phục vụ nhân dân, để củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ. Phải thấy rõ, việc tập kết quân sự là do đấu tranh thắng lợi của ta mà có. Tập kết là để xây dựng một lực lượng quân đội nhân dân hùng mạnh, trụ cột bảo đảm hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ. Những người được chọn đi tập kết có nhiệm vụ nặng nề vinh quang đó. Những người được chọn ở lại là cần thiết bám sát nhân dân, vận động nhân dân đấu tranh chính trị, cũng là để củng cố hòa bình, thực hiện dân chủ, thống nhất, hoàn thành độc lập5.
So với Chỉ thị số 41, Chỉ thị số 50 của Trung ương Cục miền Nam xác định chặt chẽ hơn tiêu chuẩn lựa chọn và mục đích, nhiệm vụ của người đi tập kết hay ở lại miền Nam. Những người được lựa chọn đi ra Bắc để xây dựng lực lượng, gồm có: “Bộ đội, cần đi để xây dựng lực lượng vũ trang; Cán bộ chuyên môn, kỹ thuật giỏi cần cho việc kiến thiết xứ sở; Các chiến sĩ Nam Bộ và toàn quốc..., thương, bệnh binh và một số cán bộ đau yếu...”6. Ngoài các tiêu chí chung, Trung ương cục miền Nam còn đề ra các tiêu chuẩn cụ thể đối với các ngành, các cấp: quân sự, công nhân, cán bộ nhân viên Dân -  Chính - Đảng, các tù binh và thường dân bị bắt do đối phương trao trả; gia đình cán bộ nhân viên..., để làm căn cứ lựa chọn đi hay ở. Đối với quân đội, ban hành chỉ thị riêng.
Để bảo đảm an toàn cho công tác tập kết, chuyển quân, tránh địch khiêu khích, ngày 15-9-1954, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 59/CT-TWC, “Về việc tổ chức Ngày Nam Bộ kháng chiến 23-9” yêu cầu các tỉnh: Đối với các vùng Pháp đóng quân, các cấp ủy đảng “không biểu tình, không mít tinh bộc lộ lực lượng. Không nên có lời lẽ và hành động khiêu khích”7.
Trước khi lực lượng kháng chiến ở miền Nam chuyển ra Bắc, Trung ương Cục miền Nam đã lãnh đạo các cấp ủy địa phương xây dựng Khu tập kết 200 ngày tại Cà Mau thành hình mẫu của chính quyền cách mạng, giúp cho người dân nơi đây được hưởng nền hòa bình, tạo điều kiện cho đồng bào những ưu việt của một chính quyền của dân, do dân và vì dân, gây dựng tình cảm sâu sắc của cán bộ, chiến sĩ miền Nam đối với miền Bắc XHCN và củng cố quyết tâm bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân.
Xác định chuyển quân là nhiệm vụ hệ trọng, cần phải tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng,  ngày 23-10-1954, Trung ương Cục miền Nam ra Nghị quyết số 13/NQ-TWC, “Nghị quyết Tổ chức Đảng ủy chuyển quân và tổ chức Đảng trong các lực lượng Dân Chính Đảng”. Nghị quyết này nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các hoạt động chuyển quân; đồng thời quán triệt cán bộ, đảng viên nhận thức rõ cuộc chuyển quân ra Bắc là một cuộc chuyển quân quy mô, khó khăn, phức tạp, nhận rõ trách nhiệm và phải quyết tâm hoàn thành thắng lợi.
Tại khu vực tập kết chuyển quân 200 ngày ở Cà Mau, Trung ương Cục miền Nam đã quyết định thành lập Đảng ủy chuyển quân khu vực Cà Mau. Đảng ủy có nhiệm vụ lãnh đạo cuộc chuyển quân của toàn khu vực Cà Mau ra Bắc và chịu trách nhiệm trực tiếp trước Trung ương Cục miền Nam. Đảng ủy gồm các đồng chí: Dương Quốc Chính (Phó Bí thư, Tư lệnh Phân Liên khu miền Tây); các đồng chí Nguyễn Chánh và Bùi Văn Dự (ủy viên Ban tập kết Quân Dân Chính Phân Liên khu miền Tây)8. Đảng ủy chuyển quân tỉnh đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng ủy chuyển quân Khu, chịu trách nhiệm lãnh đạo chuyển quân trong phạm vi tỉnh. Đảng ủy chuyển quân tỉnh gồm có Trung đoàn ủy và 1 đồng chí trong lực lượng Dân - Chính - Đảng tập kết theo trung đoàn. Nhân sự cụ thể của Đảng ủy do các tỉnh đề nghị, Đảng ủy Khu đồng ý và phải được Trung ương Cục miền Nam duyệt y. Trung ương Cục miền Nam quy định rõ phạm vi trách nhiệm của các tổ chức Đảng ủy chuyển quân: Chỉ chịu trách nhiệm lãnh đạo về mặt chuyển quân, còn việc xây dựng lực lượng hoàn toàn thuộc về Quân khu ủy và Bộ Tư lệnh, các Quân đoàn ủy và Ban chỉ huy trung đoàn. Tất cả các lực lượng Quân - Dân - Chính sau khi biên chế thành đơn vị và các đồng chí trong đại đội được tổ chức thành 1 chi bộ; nếu có nhiều chi bộ thì có Liên chi lãnh đạo chung.
Trong quá trình chuyển quân từ các khu tập kết, Trung ương Cục thường xuyên theo dõi chặt chẽ và có có sự chỉ đạo kịp thời. Ngày 1-11-1954, Trung ương Cục ban hành Chỉ thị số 68/CT- TW gửi các Trung đoàn ủy, các Đảng ủy chuyển quân cao cấp, các Liên Xí nghiệp Nam Bộ (các tổ chức Đảng ở các cơ quan cấp Nam Bộ). Chỉ thị nêu rõ: “Lực lượng ta ở hai khu vực Hàm Tân, Xuyên Mộc và Đồng Tháp Mười đã đi hết, nay đến lượt khu vực Cà Mau bắt đầu chuyển quân. Thời gian phải chuyển hết lực lượng đóng khung trong vòng 3 tháng.... phải cần có sự chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng và khẩn trương”9. Trung ương Cục nhắc nhở một số đơn vị bộ đội, cơ quan Dân - Chính - Đảng khắc phục hiện tượng chậm trễ trong công tác chuyển quân, phải khẩn trương mọi mặt để thực hiện chuyển hết trong thời gian quy định. Việc chuyển quân được tiến hành bằng đường biển và đường bộ. Chỉ thị lưu ý: Cuộc chuyển quân bằng đường biển chịu ảnh hưởng thời tiết rất nhiều, do đó, phải tranh thủ chuyên chở cho được càng nhiều càng tốt ngay trong những ngày đầu. Phương tiện chuyển quân nhờ các các nước bạn, nên cần tận dụng tối đa các phương tiện đó, không để tàu nằm chờ lâu, phục vụ  hiệu quả nhất cho việc chuyển quân. Những chỉ đạo chặt chẽ của Trung ương Cục là yếu tố quyết định dẫn đến sự thành công của công tác tập kết, chuyển quân ở Nam Bộ10.
Từ ngày 26-8-1954, các con tàu vận tải mang tên Arkhangelsk và Stavropol (của Liên Xô), Kilinky (của Ba Lan) đưa những đoàn cán bộ, chiến sĩ từ các khu vực tập kết ở Nam Bộ ra miền Bắc XHCN. Ngày 25-9-1954, đoàn chuyển quân đầu tiên ở khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc cập bến Sầm Sơn. Trong 3 đợt chuyển quân ở khu vực Bắc Cao Lãnh - Đồng Tháp, đã có 14.420 cán bộ, chiến sĩ xuống tàu ra Bắc. Sau 100 ngày theo Hiệp định đình chiến sự ở Việt Nam quy định, ngày 29-10-1954, đơn vị cuối cùng tập kết tại khu vực Cao Lãnh xuống tàu chuyển quân ra miền Bắc11. Toàn bộ lực lượng tập kết ở hai khu vực Hàm Tân - Xuyên Mộc và Cao Lãnh - Ðồng Tháp Mười ra đến miền Bắc an toàn. Ngày 8-2-1955, chuyến tàu cuối cùng chuyển quân ở Nam Bộ từ khu tập kết Chắc Băng - Cà Mau đã ra đến miền Bắc. Như vậy, việc tập kết, chuyển quân từ chiến trường Nam Bộ ra miền Bắc hoàn tất.
Ngày 31-1-1955, tại lễ bàn giao khu tập kết Cà Mau cho Pháp tiếp quản theo Hiệp định Genève, đồng bào tập hợp đông đảo, quyến luyến chia tay người ra Bắc với ước hẹn 2 năm sau trở về xây dựng quê hương. Đồng chí Lê Duẩn, công khai lên tàu ra Bắc; đến nửa đêm, trước khi tàu khởi hành, ca nô đã đón đồng chí bí mật rời tàu, trở lại Cà Mau hoạt động.
Từ ngày 21-7-1954 đến tháng 2-1955, Trung ương Cục miền Nam, với vai trò là một bộ phận của Trung ương Đảng tại Nam Bộ, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến ở các tỉnh Nam Bộ (từ Ninh Thuận trở vào)12, đã lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ tập kết, chuyển lực lượng vũ trang, cán bộ cơ quan Dân - Chính - Đảng ra Bắc, theo đúng chủ trương của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng về việc thực hiện Hiệp định Genève. Trong quá trình đó, Trung ương Cục miền Nam đã nắm chắc diễn biến tình hình thực tế, nhanh chóng phát hiện những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn tập kết, chuyển quân, đã chủ động, sáng tạo trong chỉ đạo thực hiện, có sự điều chỉnh kịp thời những lệch lạc trong nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân để bảo đảm giữ gìn bí mật, thực hiện chuyển quân thành công, đúng kế hoạch.
 Tổng kết cuộc tập kết, chuyển quân lịch sử, trong bản báo cáo trước Kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa I, ngày 20-3-1955, thay mặt Chính phủ, Ðại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: “... Với một sự cố gắng rất lớn của quân đội, với sự ủng hộ tích cực và thắm thiết của nhân dân, với sự giúp đỡ anh em của các nước bạn Liên Xô, Ba Lan trong việc vận chuyển, chúng ta đã thực hiện các việc nói trên đúng thời hạn hoặc sớm hơn thời hạn đã định”13.
Khi những đoàn tàu chở cán bộ, nhân dân miền Nam tập kết ra Bắc cập bến tại bãi biển Sầm Sơn (Thanh Hóa)14, cán bộ, chiến sĩ miền Nam vô cùng xúc động, hân hoan trước sự tiếp đón nồng hậu của nhân dân miền Bắc XHCN, mà trực tiếp là cán bộ, đảng viên, nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Khắp nơi, nhân dân treo cờ, băng rôn rợp trời, và hô vang khẩu hiệu “Hoan hô cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra Bắc”. Không khí hân hoan, phấn khởi bao trùm bãi biển, biểu trưng cho tình cảm của Bắc Nam chan hòa, ấm áp. Tại Sầm Sơn, có 3 thành viên Ủy hội quốc tế giám sát (người Ấn Độ, Canada, Ba Lan), ghi nhận chính quyền, Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực hiện đúng tinh thần Hiệp định Genève.
Trong những ngày lưu lại tại Sầm Sơn, cán bộ chiến sĩ miền Nam được Ban đón tiếp và nhân dân Thanh Hóa quan tâm, chăm sóc tận tình từ bữa ăn, giấc ngủ, trang bị quần áo ấm. Dù đang rất thiếu thốn về mọi mặt, lương thực không đủ nhưng đồng bào Thanh Hóa, đại diện cho nhân dân miền Bắc đã hết lòng tạo mọi điều kiện tốt nhất về vật chất cho cán bộ, chiến sĩ miền Nam. Buổi tối, các cuộc liên hoan văn nghệ được tổ chức sôi nổi. Anh chị em dân công vừa nấu ăn, vừa hò hát các bài hát “Chiến thắng Điện Biên”, “Hò kéo pháo”, nắm tay nhau múa bài kết đoàn, múa sạp của đồng bào Thái rộn ràng. Tình cảm của người dân nơi đây đã giúp cho cán bộ, chiến sĩ miền Nam “thấy được không khí phấn khởi của đồng bào miền Bắc trong ngày vui chiến thắng”, cảm nhận được “tình cảm Nam Bắc thật chan hòa ấm áp”, “tình cảm dạt dào của Trung ương và nhân dân miền Bắc đối với chúng tôi, làm cho chúng tôi  nhớ mãi cho đến tận bây giờ...”15.
Từ thực tiễn lịch sử Trung ương Cục miền Nam lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc trong thời gian từ tháng 7-1954 đến tháng 2-1955 đã để lại cho Đảng kinh nghiệm quý giá, đó là: Luôn giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, làm tốt công tác tư tưởng đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân; Chú trọng tuyên truyền, giáo dục cán bộ và nhân dân giữ gìn bí mật, bảo vệ Đảng, dựa vào dân để xây dựng Đảng, chính quyền; Chăm lo, xây dựng đời sống tốt đẹp cho nhân dân; không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chính quyền. Những kinh nghiệm đó là nguồn sức mạnh để Đảng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ trong mọi thời kỳ cách mạng.


 
 

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 7/2024
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T. 15, tr. 274, 308
3, 5, 6. Trung ương Cục miền Nam: “Chỉ thị số 50/CT/TWC (tối mật) về “cải bổ Chỉ thị tập kết số 41/CT-TWC”, ngày 20-8-1954, tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng, ký hiệu: II 3/6/4.50
4. Gồm một phần tỉnh Châu Đốc, một phần tỉnh Long Xuyên và tỉnh Hà Tiên
7. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn Phòng: Văn kiện Trung ương Cục miền Nam giai đoạn 1946-1975, Nxb CTQGST, H, 2018, T. 5, tr. 45
8. Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam:  Nghị quyết số 13/NQ-TWC, ngày 23-10-1954, “Nghị quyết Tổ chức Đảng ủy chuyển quân và tổ chức Đảng trong các lực lượng Dân Chính Đảng”, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng, Phông số 42, ML số 01, ĐVBQ 88
9. Đảng Lao động Việt Nam, Trung ương Cục miền Nam, Chỉ thị số 68/CT-TW, ngày 1-11-1964, “Chỉ thị gởi các Trung đoàn ủy, Các Đảng ủy chuyển quân cấp cao, Các Liên Xí Nam Bộ”. Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng
10. Tại Phân Liên khu miền Đông (bao gồm cả đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn), lực lượng chuyển quân tập kết có 14.635 người, gồm: 19 tiểu đoàn và 8 đại đội vũ trang chiến đấu; 2 tiểu đoàn quân tình nguyện Việt Nam tại Ðông Campuchia; Phân Liên khu bộ và các cơ quan Phân Liên khu, Trung đoàn bộ, Tỉnh đội bộ; bộ phận đặc khu bộ và các cơ quan Đặc khu Sài Gòn - Chợ Lớn. Tại Phân Liên khu miền Tây, lực lượng tập kết chuyển quân được tổ chức thành 4 trung đoàn, tổng quân số có 13.327 người, gồm: Trung đoàn 1 (Tiểu đoàn chủ lực 307, bộ đội địa phương và du kích các tỉnh Vĩnh Trà, Bến Tre); Trung đoàn 2 (Tiểu đoàn 410, bộ đội địa phương và du kích các tỉnh Cần Thơ, Long Châu Sa); Trung đoàn 3 (Tiểu đoàn 308, bộ đội địa phương và du kích các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Vĩnh Trà); Trung đoàn 4 (các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp, quân nhu, các đơn vị binh chủng) “Giới thiệu tài liệu lưu trữ về sự kiện tập kết chuyển quân ra Bắc”, https://nhandan.vn/gioi-thieu-tai-lieu-luu-tru-ve-su-kien-tap-ket-chuyen-quan-ra-bac-post337356.html, ngày đăng 8-10-2018
11. Bảo tàng Lịch sử quốc gia: “60 năm ngày tập kết ra Bắc - cuộc chuyển quân lịch sử”, https://baotanglichsu.vn/vi/Articles/3097/17242/60-nam-ngay-tap-ket-ra-bac-cuoc-chuyen-quan-lich-su.html, ngày đăng 31-10-2014
12. Từ tháng 9-1954, Trung ương Đảng đã quyết định bãi bỏ Trung ương Cục miền Nam để lập lại Xứ ủy Nam Bộ, nhưng trên thực tế, cuối năm 1954 và những tháng đầu năm 1955, Trung ương Cục vẫn tiếp tục lãnh đạo các nhiệm vụ của phong trào kháng chiến ở Nam Bộ, trước khi Xứ ủy chính thức đi vào hoạt động
13. “Giới thiệu tài liệu lưu trữ về sự kiện tập kết chuyển quân ra Bắc”, https://nhandan.vn/gioi-thieu-tai-lieu-luu-tru-ve-su-kien-tap-ket-chuyen-quan-ra-bac-post337356.html, ngày đăng 8-10-2018; Văn kiện Quốc hội Toàn tập, Nxb CTQG, T. 1 (1945 - 1960), H, 2006
14. Có 1.869 thương, bệnh binh, 47.346 cán bộ, chiến sĩ, 5.922 học sinh, 1.443 gia đình cán bộ miền Nam tập kết về Sầm Sơn đã được nhân dân Thanh Hóa đón tiếp, chăm sóc tận tình
15. Theo: Nguyễn Thanh Phong (cán bộ tiền khởi nghĩa, cán bộ Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam, tập kết ra Bắc. Trước khi nghỉ hưu là Phó Chủ nhiệm Ủy ban ngân sách của Quốc hội khóa IX thường trực phía Nam):  “Chuyện kể về tập kết, một bước ngoặt trong  đời làm cách mạng của tôi”, in trong: Kỷ yếu Ban Tổ chức Trung ương Cục miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Câu lạc bộ Truyền thống kháng chiến Khối Trung ương Cục - Ủy ban Nam Bộ, xuất bản, 2008, tr. 272-274.
TS ĐOÀN THỊ HƯƠNG
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Hiệp định Genève được ký kết ngày 21-7-1954, miền Bắc được giải phóng, miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào, tạm thời nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền do Mỹ dựng lên. Ngày 6-9-1954, Bộ Chính trị ra Chỉ thị “Về tình hình mới, nhiệm vụ công tác của miền Nam”, trong đó nêu rõ: “Thi hành triệt để Hiệp định đình chiến (tập kết quân đội, rút quân ra Bắc...1. Tiếp đó, Nghị quyết Bộ Chính trị họp từ ngày 5 đến 7-9-1954 chỉ rõ nhiệm vụ của Đảng bộ, nhân dân miền Nam trong tình hình mới là: “Lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ..., cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập”2. Thực hiện chủ trương v&agrave

Tin khác cùng chủ đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (16/7/1930 - 16/7/2026): Sức sống mới trên quê hương cách mạng
Hành trình đến độc lập, tự do của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay
Đảng bộ Liên khu V lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích chống càn quét, bình định của thực dân Pháp (1951-1952)

Gửi bình luận của bạn