Đảng Cộng sản Việt Nam xác định giai cấp nông dân có vai trò đặc biệt quan trọng trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong đó, giai cấp nông dân Việt Nam liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân và các lực lượng xã hội khác của dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết đấu tranh đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập, đưa lại ruộng đất cho nông dân, xây dựng xã hội mới - xã hội chủ nghĩa. Những quan điểm này đã được thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã giành được độc lập năm 1945, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp, từng bước mang lại ruộng đất cho nông dân trong những năm 1945-1954.

Quan điểm của Đảng về giai cấp nông dân (1930-1954)
Quan điểm của Đảng về giai cấp nông dân (1930-1954)
1. Đến đầu thế kỉ XX, giai cấp nông dân Việt Nam chiếm hơn 90% tổng dân số cả nước. Tuy cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn nhưng họ luôn nêu cao tinh thần đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến.
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận chủ nghĩa Mác- Lênin đã nhận thức được rằng, sự nghiệp giải phóng giai cấp nông dân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong cuộc cách mạng này, giai cấp nông dân liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, do giai cấp công nhân lãnh đạo để giành thắng lợi. Người cho rằng: “trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất là cách mạng của nông dân do giai cấp công nhân lãnh đạo và chính quyền nhân dân thực chất là chính quyền của công nông”1. Người cho rằng, nông dân và công nhân là lực lượng đông nhất, bị bóc lột nhiều nhất, rất yêu nước: “công nông bị áp bức nặng hơn,... công nông là đông nhất cho nên sức mạnh hơn hết”2, do đó “công nông là người chủ cách mệnh”3, “công nông là gốc cách mệnh”4. Người khẳng định: “Cuộc cách mạng vô sản không thể thắng lợi ở các nước nông nghiệp và nửa nông nghiệp nếu như giai cấp vô sản cách mạng không được quần chúng nông dân ủng hộ tích cực”.
Thấu triệt quan điểm của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, đầu năm 1930, ngay khi ra đời Đảng đã xác định rõ mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng chỉ rõ: “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”5. Về chính trị, đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh và tổ chức ra quân đội công nông6. Về kinh tế, thủ tiêu hết các thứ quốc trái, các sản nghiệp lớn của Pháp để giao cho chính phủ công nông binh quản lí, đồng thời thu hết ruộng đất của đế quốc để chia cho dân cày nghèo, xóa bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp7. Để thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng này, Đảng chỉ rõ phải phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng liên minh chặt chẽ giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân, do Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Cương lĩnh của Đảng nêu rõ: “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày và dựa vào hạng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trúc bộ địa chủ phong kiến”8; “Đảng tập hợp đa số quần chúng nông dân, chuẩn bị cách mạng thổ địa và lật đổ bọn địa chủ và phong kiến. Đảng giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản”9; “Không bao giờ Đảng lại hy sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dân cho một giai cấp nào khác”10; Đảng “không khi nào nhượng một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường thoả hiệp, trong khi tuyên truyền”11.
Trong Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng, Nguyễn Ái Quốc nêu rõ: “Đảng Cộng sản An Nam đã được thành lập. Đó là Đảng của giai cấp vô sản. Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhằm giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta”12. Đồng thời, Người tiếp tục nhấn mạnh trong cuộc cách giải phóng dân tộc này sẽ thực hiện: “Quốc hữu hóa toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quốc và địa chủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo”13.
Những quan điểm trên đã cho thấy rằng, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng tiến lên cộng sản chủ nghĩa, giai cấp nông dân cùng với giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng chủ yếu, do Đảng lãnh đạo. Trong quá trình thực hiện cách mạng, Đảng phải thu phục được đại đa số giai cấp nông dân cả nước tham gia.
Những quan điểm lí luận nêu trên tiếp tục được Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương khẳng định tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tháng 10 – 1930. Luận cương chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dương tiếp tục khẳng định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là làm cách mạng tư sản dân quyền và cách mạng xã hội chủ nghĩa, trong đó: “Tư sản dân quyền cách mạng là thời kỳ dự bị để làm xã hội cách mạng”14. Luận Cương chỉ rõ “Trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp và nông dân là hai động lực chánh”15. Nhiệm vụ cốt yếu của cuộc cách mạng này là: Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp, phong kiến và địa chủ; Lập chánh phủ công nông; Tịch ký hết thảy ruộng đất của bọn địa chủ ngoại quốc, bổn xứ và các giáo hội; giao ruộng đất ấy cho trung và bần nông, quyền sở hữu ruộng đất về chánh phủ công nông;... 16. Luận cương nhấn mạnh: “Vấn đề thổ địa là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, vô sản giai cấp có đứng đầu và cùng với quần chúng dân cày mà tranh đấu để binh vực quyền lợi hằng ngày cho dân cày, và để thực hành thổ địa cách mạng cho triệt để, thì mới có thể giành quyền lãnh đạo cho dân cày được. Đồng minh của giai cấp vô sản là bọn trung và bần nông”17.
Về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân và nông dân trong cuộc cách mạng tư sản dân quyền, Luận cương chỉ rõ: “Muốn lập công nông chuyên chánh thì vô sản giai cấp phải lãnh đạo cho đại đa số quần chúng lao khổ, nhứt là dân cày”18. Đối với giai cấp nông dân, Luận cương xác định: Dân cày là hạng người chiếm đại đa số ở Đông Dương (hơn 90 phần 100 (90%)), họ là một động lực mạnh cho cách mạng tư sản dân quyền19.
Về phong trào đấu tranh của nông dân đang phát triển mạnh mẽ trên khắp cả nước, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho rằng “Phải khoách trương phong trào tranh đấu rộng thêm lên; đồng thời phải phá cái xu hướng bạo động càn. Phải chỉnh đốn nông hội lại cho có hệ thống theo điều lệ mới và dự bị việc tổ chức Đông Dương Tổng nông hội. Phải tổ chức đội tự vệ của nông dân”20.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-1930, ra án nghị quyết riêng “Nông dân vận động”. Nghị quyết phân tích tình hình đấu tranh của giai cấp nông dân và chỉ ra những sai lầm, khuyết điểm trong công tác vận động nông dân của Đảng, đồng thời đề ra nhiệm vụ công tác nông vận, trong đó nhấn mạnh vai trò của tổ chức Nông hội, trong đó cần tập trung vào các nội dung sau:
Một là, Nông hội là tổ chức của nông dân để tranh đấu cho đến khi cách mạng ruộng đất thắng lợi, do vậy nông hội cần phải đẩy mạnh công tác cổ động tuyên truyền hằng ngày trong nông dân về sự áp bức của chế độ thực dân, phong kiến làm cho đại đa số nông dân nhanh chóng giác ngộ quyền lợi và biết phải tranh đấu chống chủ nghĩa, quan làng và đế quốc;  phải làm cho các khẩu hiệu đấu tranh về ruộng đất lan sâu rộng trong quần chúng nông dân,... Để thực hiện công tác tuyên truyền, cần phải có tờ báo của nông hội: “Phải có báo chương của nông hội để tuyên truyền và phải hết sức làm cho hội viên nông hội viết vào”21.
Hai là, về tổ chức nông hội, cần tập trung xây dựng và củng cố nông hội làng “căn bản tổ chức của nông hội là làng”. Bộ máy tổ chức nông hội theo tổ chức bộ máy hành chính của chế độ thực dân, phong kiến: Tổ chức phải theo khu vực cai trị: tổng Tổng nông hội, huyện Tổng nông hội, tỉnh Tổng nông hội, xứ Tổng nông hội, Đông Dương Tổng nông hội.
Nông hội cần phải thu hút đông đảo các thành phần nông dân vào nông hội, đặc biệt là bần nông và trung nông: “Bần và trung nông phải hết sức bao khoát vào nền tổ chức của nông hội”. Đối với phú nông thì không cho vào nông hội: “phú nông là một hạng dân cày, tuy là trong lúc đầu cách mạng vận động chống thuế, chống sưu, chống những sự áp bức nhũng nhiễu của bọn quan lại thân hào thì cũng có thể đi với các hạng bần, trung nông, song hễ cách mạng sâu rộng ra bao nhiêu thì chúng nó dần dần trở lại mà phản tranh đấu và theo phe phản động. Ngay từ lúc đầu phải giữ đừng cho nó ảnh hưởng đến nông dân bần, trung, cho nên nông hội phải hết sức giữ gìn đừng cho phú nông lọt vào”22.
Ba là, đẩy mạnh phát triển đội tự vệ của nông dân ở các làng quê, làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của nông dân: “tổ chức và khoách trương đội tự vệ của nông dân rất quan trọng và cần thiết cho cuộc tranh đấu ở nhà quê. Nông hội phải hết sức cổ động tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng dân cày ý nghĩa đội tự vệ làm cho dân cày hăng hái tham gia và khoách trương tổ chức”23.
Bốn là, nông hội cần quan hệ mật thiết với công hội và chịu sự lãnh đạo của Đảng: “Nông hội phải phát sinh liên lạc mật thiết với công hội. Đối với Đảng thì nông hội chịu chính trị chỉ huy, nhưng tổ chức của Đảng và hội phải có phân tách rõ ràng. Đảng bộ muốn đem ý kiến gì thi hành trong nông hội thì phải do đảng đoàn; mà đảng đoàn phải dùng cách giải thích, đề nghị mà làm chứ không được dùng cách mệnh lịnh, phải hết sức chỉ huy làm cho quần chúng nông dân tín nhiệm Đảng và ủng hộ Đảng”24.
Năm là, về lãnh đạo đấu tranh: Sách lược chung về nông dân vận động hiện nay thâu phục quảng đại quần chúng bần và trung nông, mở rộng tổ chức, khoách trương tranh đấu cho sâu, rộng, đều ra, thêm sức lãnh đạo của vô sản giai cấp trong nông dân, chớ không phải là chủ trương địa phương bạo động (bạo động nghĩa là tổ chức dấy loạn cướp chính quyền). Phải căn cứ vào tổng sách lược đó mà lãnh đạo nông dân tranh đấu. Muốn cho quần chúng dân cày nổi lên rung động giai cấp thống trị địa chủ, quan lang, thì phải hiệu triệu cho thực hành các cách thị oai chống thuế, chống địa tô, phản đối mệnh lịnh quan làng, v.v. liên kết sự tranh đấu kinh tế với sự tranh đấu chính trị, nhân mọi cơ hội tranh đấu truyền bá cho sâu rộng những khẩu hiệu cách mạng thổ địa và kích thích tổ chức nông dân tự vệ đội. Tổ chức biểu tình thị oai tranh đấu thì cần phải hết sức cổ động tuyên truyền cho mạnh, làm cho càng ngày càng đông quần chúng tham gia, có thể tổ chức được những cuộc đấu tranh đông quần chúng mà lại chủ trương làm nho nhỏ thì rất sai lầm. Đối phó với khủng bố thì phải chú trọng về việc tổ chức các cuộc tranh đấu cho có kế hoạch, trật tự, mở rộng và luyện tập đội tự vệ nông dân, chớ không phải là bớt tranh đấu đi hoặc làm cho những cuộc vận động bớt hăng hái kịch liệt. Phải làm cho dân cày nhận thức lực lượng của mình và tự động. Phải giải thích cho nông dân hiểu rằng những sự hành động cá nhân và những xu hướng như ám sát là có hại cho công cuộc lớn của họ, hại đến sự tiến bộ giác ngộ và sự hành động có tổ chức của họ, đồng thời làm cho họ hiểu phải lấy những sự hành động quần chúng, lấy lực lượng tổ chức mà chống lại khủng bố thì mới có hiệu quả. Lãnh đạo cho nông dân tức là phải xét rõ tình hình mỗi nơi mà tổ chức những cuộc quần chúng hành động. Phải nhân những cuộc tranh đấu mở rộng ảnh hưởng của nông hội, của Đảng, hết sức tổ chức quần chúng vào hội cho đông, làm sao cho nông hội đâu đâu cũng rõ có tính chất quần chúng.
Sáu là, những yêu cầu lãnh đạo nông dân tranh đấu: a) Về chính trị: Tự do tổ chức, hội hiệp, ngôn luận, bỏ canh tuần; phản đối: khủng bố trắng, hội đồng cải cách, hội đồng quản hạt, cách lừa dối để chở dân đi các đồn điền và hoang đảo. b) Về kinh tế: Giảm thuế , bỏ thuế thân, bớt địa tô, chống địa tô, bỏ sưu dịch công ích. Công nhân nông nghiệp đòi tăng tiền lương, bớt giờ làm, đòi bảo hiểm, ngày nghỉ (Tết và các ngày kỉ niệm cách mạng) có lương.
Cũng tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930, Đảng ban hành: Điều lệ Tổng Nông hội Đông Dương; Điều lệ Nông hội làng; Điều lệ Ban Chấp hành Nông hội xã bộ. Những Điều lệ này xác định rõ mục đích; những quy định cụ thể về tổ chức bộ máy, hội viên, cách thức và nội dung hoạt động của tổ chức nông hội. Trong đó, Điều lệ Nông hội làng nêu rõ: Mục đích: Đoàn kết hết thảy bần và trung nông trong làng, liên hiệp với nông dân các chỗ khác và vô sản giai cấp để tranh đấu chống hết thảy mọi sự áp bức, bóc lột nông dân, binh vực quyền lợi hằng ngày cho nông dân và thực hành thổ địa cách mạng để thâu ruộng đất về cho bần nông và trung nông.
Về hội viên: Hết thảy bần và trung nông trong làng, bất kì đàn ông, đàn bà, hoặc già, hoặc trẻ, bất kì nòi nước nào, tôn giáo nào và tư tưởng chánh trị nào, hễ không đứng về phe địa chủ, quan làng thừa nhận Điều lệ hội, tình nguyện gia nhập hội và nạp hội phí đều được vào hội.
Như vậy có thể thấy rằng, ngay trong năm 1930 - năm đầu tiên Đảng ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn của dân tộc Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trong cuộc cách mạng đó, giai cấp nông dân phải liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng để bảo đảm thắng lợi.
Cương lĩnh đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 chưa nêu vấn đề về tổ chức của giai cấp nông dân, đến Luận cương chính trị của Đảng và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 10-1930, Đảng đã chỉ rõ yêu cầu phải thành lập tổ chức nông hội với bộ máy tổ chức chặt chẽ từ cơ sở (làng) đến trung ương (Tổng Nông hội Đông Dương) để tập hợp đông đảo, rộng rãi giai cấp nông dân tham gia đấu tranh vì sự nghiệp cách mạng của dân tộc do Đảng lãnh đạo.
Những chủ trương đúng đắn trên của Đảng đã thu hút đông đảo nông dân cả nước tích cực tham gia đấu tranh chống lại chế độ thực dân, phong kiến trong cao trào cách mạng 1930-1931, mà đỉnh cao là phong trào Xô viết Nghệ - Tĩnh. Cuộc đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân cả nước, trong đó lực lượng chủ yếu là giai cấp nông dân dưới sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng trong cao trào cách mạng 1930-1931 đã làm lung lay tận gốc chế độ thực dân, phong kiến. Trước sức mạnh của phong trào đấu tranh cách mạng, thực dân Pháp đã tập trung lực lượng đánh phá ác liệt phong trào đấu tranh của nhân dân, nhiều nơi chúng thực hiện khủng bố trắng làm cho phong trào tạm thời lắng xuống. Tại các địa phương, tổ chức đảng và các tổ chức quần chúng cách mạng, trong đó có Nông hội đỏ bị giải tán. Tuy nhiên, nông dân tại các làng xã tiếp tục tham gia các hội truyền thống ở địa phương, sẵn sàng tham gia đấu tranh bảo vệ quyền lợi của mình.

2 . Được sự giúp đỡ của Quốc tế Cộng sản, đến năm 1935, tổ chức Đảng được phục hồi mạnh mẽ. Tháng 6- 1934, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng và đại diện các tổ chức Đảng trong nước đã họp tại Ma Cao (Trung Quốc) quyết định tổ chức Đại hội I của Đảng. Đại hội diễn ra từ ngày 27 đến 31-3-1935 tại Ma Cao (Trung Quốc). Đại hội đã quyết định nhiều vấn đề quan trọng đối với công tác xây dựng Đảng và cách mạng Việt Nam. Đại hội xác định: “Thâu phục quảng đại quần chúng là một nhiệm vụ trung tâm, căn bản, cần kíp của Đảng hiện thời”25. Đại hội ra “Nghị quyết về nông dân vận động”, trong đó xác định: “Đảng Cộng sản quả quyết rằng chỉ có con đường cách mạng điền địa,... chia ruộng đất của chúng cho nông dân lao động, chỉ có con đường đó là con đường giải quyết nông nghiệp khủng hoảng theo quyền lợi giải phóng nông dân và quảng đại quần chúng lao khổ Đông Dương”26. Đảng chủ trương tập hợp các thành phần nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng để đấu tranh cách mạng: “Đảng Cộng sản chủ trương vô sản giai cấp đồng minh và lãnh đạo nông dân lao động (công nhân nông nghiệp, bần nông và trung nông)”27. Về tổ chức nông hội, Đảng xác định: “nông hội là đoàn thể tranh đấu của nông dân lao động và chỉ có họ thôi”28. Trong đấu tranh, Đảng nhấn mạnh: “Phải chú trọng bênh vực quyền lợi kinh tế nhỏ nhặt của nông dân,... phải mật thiết liên lạc khẩu hiệu từng phần với nhiệm vụ cách mạng điền địa, mật thiết liên lạc cách mạng điền địa và cách mạng phản đế”29.
Năm 1939, Chiến tranh thế giới II bùng nổ, tình hình trong nước có nhiều chuyển biến, trước tình hình đó, tháng 11-1939,  HNTƯ Đảng họp tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định, xác định cách mạng lúc này phải tập trung vào nhiệm vụ hàng đầu là giải phóng dân tộc. Hội nghị tiếp tục nhấn mạnh vai trò của liên minh giai cấp công - nông: “Công nông là hai cái lực lượng chính của cách mệnh, sự đồng minh chặt chẽ của công nông là vấn đề sống chết của cách mệnh, không có sự đồng minh ấy thì cách mệnh không thể thắng lợi được30. Tuy nhiên, trong tình hình trước mắt: “Công nông phải đưa cao cây cờ dân tộc lên, vì quyền lợi sinh tồn của dân tộc mà sẵn sàng bắt tay với tiểu tư sản và những tầng lớp tư sản bổn xứ, trung tiểu địa chủ còn có căm tức đế quốc, vì sự căm tức ấy có thể làm cho họ có ít nhiều tinh thần chống đế quốc”31. Hội nghị xác định: “Tịch ký và quốc hữu hóa đất ruộng của đế quốc thực dân, cố đạo và bọn phản bội dân tộc. Lấy đất bọn phản bội, bọn cố đạo, đất công điền, đất bỏ hoang chia cho quần chúng nông dân cày cấy”32.
Chủ trương của HNTƯ tháng 11-1939, tiếp tục được HNTƯ 8 tháng 5-1941 bổ sung và hoàn thiện. Hội nghị xác định phải xem nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một “nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta và của cách mạng Đông Dương”33. Hội nghị chủ trương tiếp tục tạm gác khẩu hiệu “đánh đổ địa chủ, chia ruộng đất cho dân cày”, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo, chia lại công điền cho công bằng, giảm địa tô, giảm tức, thủ tiêu thuế điền. Hội nghị quyết định lập Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh). Các đoàn thể quần chúng yêu nước chống đế quốc thống nhất lấy tên là “Hội cứu quốc”, trong đó có Hội Nông dân cứu quốc.
Những chủ trương hết sức đúng đắn của Đảng, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam và bối cảnh quốc tế những năm 1939-1945 đã tập hợp được đông đảo nhân dân cả nước, trong đó đông đảo nhất là giai cấp nông dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng làm nên các cuộc khởi nghĩa từng phần ở khắp các địa phương từ và cuối cùng là thành công của cuộc Cách máng Tháng Tám năm 1945, giành lại nền độc lập của dân tộc.
Sau khi đất nước độc lập, Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã tập trung xây dựng xã hội mới của nhân nhân, vì dân dân và thực hiện cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trong quá trình đó, người nông dân từng bước được giảm tô, giảm tức, một số được chia ruộng đất công; được tham gia xây dựng cuộc sống mới; được tham gia xóa nạn mù chữ với các lớp bình dân học vụ,... và tích cực tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Đến năm 1951, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã chuyển sang giai đoạn tổng phản công, Đại hội II (1951) của Đảng có nhiều quan điểm mới về Đảng, về cách mạng Việt Nam, Đại hội xác định: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”34. “Đảng Lao động Việt Nam phải là người lãnh đạo sáng suốt, kiên quyết, trung thành của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, của nhân dân Việt Nam, để đoàn kết và lãnh đạo dân tộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn, để thực hiện dân chủ mới”35. Từ những quan điểm đó, Đảng xác định nông dân cũng là đối tượng kết nạp vào Đảng: “Đảng Lao động Việt Nam sẽ kết nạp những công nhân, nông dân, lao động trí óc, thật hăng hái, thật giác ngộ cách mạng”36.
Đại hội xác định chính sách căn bản của Đảng đối với các lớp nông dân (kể cả phú nông) ở nông thôn trong giai đoạn này là: “dựa vào cố, bần nông, liên minh với trung nông, hợp tác với phú nông,... Đảng chưa giải quyết vấn đề ruộng đất để đoàn kết các tầng lớp địa chủ tiến bộ, song phải tích cực thực hiện giảm tô, giảm tức để hạn chế sự bóc lột có tính chất phong kiến ở nông thôn, đồng thời để cải thiện đời sống của dân cày nghèo”37. Đại hội II (1951) của Đảng xác định: “ở những vùng tự do, phải triệt để thi hành giảm tô, giảm tức, tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian tạm cấp cho dân cày nghèo và gia đình các chiến sĩ, để cải thiện đời sống cho dân cày và nâng cao tinh thần cùng lực lượng kháng chiến của họ”38.
Về việc giải quyết vấn đề ruông đất, kể từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 1953, trên địa bàn các tỉnh từ Liên khu IV trở ra đã có 302.840 ha ruộng đất từ các nguồn khác nhau (của thực dân, Việt gian, ruộng công và nửa công, ruộng hiến, ruộng trưng mua, trưng thu của địa chủ...được tạm cấp, tạm giao cho nông dân. Như vậy, đã giải quyết tới 58,3% trong tổng số 518.710 ha ruộng đất thuộc loại này. Cho đến trước cải cách ruộng đất (12-1953), giai cấp địa chủ phong kiến chỉ còn chiếm hữu khoảng non nửa diện tích ruộng đất đã chiếm hữu trước năm 1945. Ở Liên khu Việt Bắc, Liên khu III, Liên khu IV có 397.604 mẫu ruộng được giảm tô 25%. Ở miền Tây Nam Bộ, nhân dân đấu tranh với địa chủ buộc phải giảm tô theo quy định của Chính phủ: 25%; có nơi tới 50 - 60%39.
Thắng lợi của việc thực hiện chính sách giảm tô, chia cấp ruộng đất, góp phần cải thiện đáng kể đời sống cho nông dân, tạo ra bước chuyển biến căn bản quan hệ kinh tế ở nông thôn, động viên nông dân hăng hái tham gia kháng chiến, phát triển nông hội và các đoàn thể quần chúng.
Ngày 24-4-1953, Ban chấp hành Trung ương ra Chỉ thị “về phát động quần chúng trong năm 1953”. Chỉ thị nêu rõ: “Nông dân là một lực lượng rất lớn của dân tộc, một đồng minh rất chắc chắn của giai cấp công nhân”; “Muốn kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công, phải dựa vào quần chúng nông dân; muốn dựa vào nông dân, phải bồi dưỡng lực lượng nông dân. Muốn nông dân có lực lượng dồi dào, phải làm cho họ có ruộng cày, có cơm ăn, nhà ở”40.
Đến tháng 1-1954, HNTƯ4 khóa II đề ra chủ trương phát động quần chúng tiến đến cải cách ruộng đất. Hội nghị nêu rõ: “trong năm 1953, chúng ta phải phóng tay phát động quần chúng nông dân triệt để giảm tô, thực hiện giảm tức, chia lại công điền, chia hẳn ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian cho nông dân, chủ yếu là triệt để giảm tô, nhằm thoả mãn yêu cầu chính đáng về kinh tế của nông dân”41.
Những chủ trương trên đã góp phần tăng cường sức mạnh của cả dân tộc và giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân dân Pháp xâm lược.
Trong giai đoạn 1930-1954, Đảng luôn đánh giá rất cao vai trò của giai cấp nông dân đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, do Đảng lãnh đạo, qua đó đã tập hợp được đông đảo nông dân tham gia các phong trào cách mạng của dân tộc, góp phần quan trọng đưa dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong đó, có những thắng lợi to lớn, tạo bước ngặt đối với lịch sử dân tộc, đó là cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, đưa dân tộc ta từ kiếp nô lệ lên làm chủ vận mệnh đất nước; là thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, giải phóng hoàn toàn miền Bắc, đưa miền Bắc tiến lên CNXH.

 
 

Bài đăng trên Tạp chí Lịch sử Đảng in, số 10/2024
1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, T. 2, tr. 2, 2, 3, 4, 6, 6, 4, 16, 16, 93, 94, 95, 97-98, 100, 97, 115, 154, 155, 155, 156, 154, 155, 155, 156
25, 26, 27, 28, 29. Sđd, 1999, T. 5, tr. 26, 47, 48, 51, 52-53
30. Sđd, 2000, T. 6, tr. 540, 540, 542
33. Sđd, 2000, T. 7, tr. 118-119
34, 35, 36, 37, 38. Sđd, 2001, T. 12, tr. 38, 37, 37, 194, 35-36
39. Theo: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb CTQG, H, 2018, T. I, quyển 2, tr. 400
40, 41. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2001, T. 14, tr. 129, 173.
TS NGUYỄN DANH LỢI
Viện Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. Đến đầu thế kỉ XX, giai cấp nông dân Việt Nam chiếm hơn 90% tổng dân số cả nước. Tuy cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn nhưng họ luôn nêu cao tinh thần đấu tranh chống chế độ thực dân, phong kiến.Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, người Việt Nam đầu tiên tiếp nhận chủ nghĩa Mác- Lênin đã nhận thức được rằng, sự nghiệp giải phóng giai cấp nông dân gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Trong cuộc cách mạng này, giai cấp nông dân liên minh chặt chẽ với giai cấp công nhân, do giai cấp công nhân lãnh đạo để giành thắng lợi. Người cho rằng: “trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu như nước ta thì vấn đề dân tộc thực chất là vấn đề nông dân, cách mạng dân tộc thực chất l&agrave

Tin khác cùng chủ đề

Chủ tịch Hồ Chí Minh với Đại tướng Võ Nguyên Giáp
Trung ương Cục Miền Nam lãnh đạo công tác tập kết, chuyển quân ra Bắc (7-1954-2-1955)
Kỷ niệm 96 năm Ngày truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Khánh Hòa (16/7/1930 - 16/7/2026): Sức sống mới trên quê hương cách mạng
Hành trình đến độc lập, tự do của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh
Phát huy giá trị nguồn tư liệu số lịch sử địa phương trong giáo dục chính trị tư tưởng cho sinh viên thời kỳ chuyển đổi số
Quan niệm của Phan Bội Châu về tinh thần đoàn kết dân tộc và giá trị vận dụng hiện nay

Gửi bình luận của bạn